Giai đoạn 2021 – 2025 là thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Bám sát chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) của ngành Nông nghiệp và Môi trường đã được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả quan trọng, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội và công tác quản lý nhà nước.
Một trong những thành tựu nổi bật của nhiệm vụ KHCN ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2021 – 2025 là việc từng bước hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực KHCN. Công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý nhiệm vụ KHCN được chú trọng, tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành.
Nhiều kết quả nghiên cứu đã trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các luật, nghị định, thông tư quan trọng trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, đất đai, tài nguyên nước, môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu... Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Ông Nguyễn Thạc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ cho biết, trong giai đoạn 2021 – 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức triển khai hàng trăm nhiệm vụ KHCN ở các cấp độ khác nhau, bao gồm đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng và các chương trình KHCN trọng điểm. Các nhiệm vụ được lựa chọn theo hướng tập trung giải quyết những vấn đề lớn, cấp thiết của ngành, gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.
Công tác quản lý, theo dõi, đánh giá nhiệm vụ KHCN có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ nhiệm vụ hoàn thành đúng tiến độ đạt cao, cơ bản không có nhiệm vụ quá hạn kéo dài; chất lượng sản phẩm đầu ra từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất và quản lý.
Đặc biệt, hoạt động nghiên cứu KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cơ cấu ngành theo hướng hiện đại, bền vững. Thời gian qua, đã có hàng trăm giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu đã được nghiên cứu, chọn tạo và công nhận.
Nhiều tiến bộ kỹ thuật, quy trình canh tác tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản được nghiên cứu, hoàn thiện và chuyển giao vào sản xuất, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên, các nhiệm vụ KHCN tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến phục vụ điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo các vấn đề môi trường, tài nguyên và thiên tai. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, biển và hải đảo… góp phần sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên.
Đặc biệt, theo ông Cường, các nhiệm vụ KHCN về bảo vệ môi trường, xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều công nghệ, vật liệu mới trong xử lý nước thải, chất thải rắn, tái chế và tái sử dụng đã được nghiên cứu, ứng dụng, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, giai đoạn 2021 – 2025 ghi nhận bước tiến mạnh mẽ trong ứng dụng KHCN phục vụ chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường. Nhiều nhiệm vụ KHCN tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, nông nghiệp, thủy sản, môi trường; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám trong quản lý, giám sát và dự báo.
Trong nông nghiệp, các mô hình nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, ứng dụng công nghệ cao từng bước được hình thành và nhân rộng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động tiêu cực đến môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Một điểm sáng trong giai đoạn 2021 – 2025 là việc tăng cường chuyển giao, ứng dụng kết quả KHCN vào thực tiễn. Hàng nghìn mô hình trình diễn, mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã được triển khai tại các địa phương, vùng sản xuất trọng điểm, phù hợp với điều kiện sinh thái và nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu KHCN ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất, góp phần thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm KHCN, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
Tiềm lực KHCN ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục được củng cố và phát triển. Hệ thống các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, trung tâm nghiên cứu từng bước được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ KHCN không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, từng bước hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, có khả năng triển khai các nhiệm vụ KHCN quy mô lớn, liên ngành, liên vùng.
Một trong những điểm nhấn trong giai đoạn 2021 – 2025 của ngành Nông nghiệp và Môi trường là cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu của các trường, viện nghiên cứu được quan tâm đầu tư, đặc biệt là các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu trọng điểm… góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN của ngành.
Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2021 – 2025 đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của KHCN đối với sự phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường. KHCN thực sự trở thành động lực thúc đẩy tái cơ cấu ngành, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, theo ông Cường, ngoài những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2021 -2025, lĩnh vực KHCN ngành Nông nghiệp và Môi trường còn có những điểm nghẽn nhất định như: Các trình tự, thủ tục còn phức tạp, thiếu đồng bộ; cơ chế phối hợp, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa rõ ràng, đặc biệt thiếu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chuyển giao và chia sẻ quyền sở hữu đối với các kết quả nghiên cứu KHCN ...
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp với đặc thù của lĩnh vực khoa học và công nghệ đã tạo ra những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt trong quá trình xử lý tài sản hình thành từ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Các quy định về xác định, hoàn trả giá trị và phân chia lợi nhuận còn chưa rõ ràng, dẫn đến việc chuyển giao gặp nhiều khó khăn. Cơ chế quản lý hoạt động KHCN một số quy định chưa theo kịp sự phát triển của KHCN, mang nặng tính hành chính, trong đó tập trung chủ yếu vào quản lý tài chính, quản lý tiến độ, thủ tục giao nhận nhiệm vụ KHCN. Việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… còn nhiều bất cập khi áp dụng luật đấu thầu. Các quy định về xác định, hoàn trả giá trị và phân chia lợi nhuận còn chưa rõ ràng, dẫn đến việc chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu, phát triển KHCN từ nguồn ngân sách nhà nước vào sản xuất và việc hình thành thị trường KHCN gặp nhiều khó khăn…
Theo ông Nguyễn Thạc Cường, để phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý KHCN, tập trung nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới, công nghệ chiến lược, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hiện đại hóa ngành trong giai đoạn tiếp theo…