Phong trào thi đua yêu nước (TĐYN) là nguồn cổ vũ mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần sáng tạo, đoàn kết, trách nhiệm của toàn thể cán bộ, viên chức và người lao động. Đối với Viện Khoa học môi trường, biển và hải đảo – đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phong trào TĐYN càng có ý nghĩa sâu sắc, bởi đây là lĩnh vực vừa mang tính khoa học vừa mang tầm chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, tập thể viên chức và người lao động của Viện Khoa học môi trường, B&HĐ luôn xác định phong trào TĐYN là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Trong những năm qua, Đảng ủy, lãnh đạo Viện luôn coi TĐ, KT là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và phát triển đơn vị. PTTĐ được phát động thường xuyên, gắn với từng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn, từng bộ phận chuyên môn.
Trong giai đoạn 2020 -2025, Viện đã triển khai 47 nhiệm vụ kKH&CN các cấp, đạt nhiều kết quả nổi bật.
Về nghiên cứu chính sách và pháp luật, Viện tích cực tham gia xây dựng khung thể chế, chính sách BVMT và quản lý tài nguyên biển, tiêu biểu là việc tham gia soạn thảo Luật BVMT 2020, Luật Tài nguyên, môi trường B&HĐ, đồng thời đề xuất nhiều công cụ quản lý như bảo hiểm trách nhiệm môi trường, kiểm toán môi trường, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả QLNN về TN&MT.
Trong lĩnh vực điều tra, đánh giá môi trường, Viện đã triển khai nhiều nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao như: Đánh giá môi trường LVS, biển và vùng ven biển; nghiên cứu khả năng chịu tải môi trường, xác định vùng nhận chìm, khảo sát ô nhiễm tại các khu vực ven biển từ Huế đến Ninh Thuận (cũ), hỗ trợ quy hoạch nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ hệ sinh thái ven biển.
Về kiểm soát rác thải nhựa đại dương, Viện đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, phát triển bộ chỉ số đánh giá ô nhiễm vi nhựa trong hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Trong nghiên cứu, ứng dụng kinh tế tuần hoàn, Viện đã đề xuất mô hình “ngân hàng chất thải” và thị trường sản phẩm tái chế, đồng thời xây dựng các giải pháp tái sử dụng chất nạo vét cửa sông - biển.
Đối với lĩnh vực thích ứng BĐKH, Viện tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên theo hướng tiếp cận hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học và giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn, nước biển dâng.
Không chỉ khẳng định năng lực trong nước, Viện còn đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều đối tác uy tín như Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Úc, cùng các tổ chức quốc tế như Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP). Hiện nay, Viện đang triển khai một số dự án hợp tác quốc tế, bao gồm: Phi dự án viện trợ thiết bị điều tra, khảo sát, phân tích rác thải nhựa do Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ; dự án do GEF tài trợ thông qua UNEP về giảm sử dụng và phát thải POPs trong ngành dệt may; Dự án khu vực “Chương trình hành động chiến lược cho Biển Đông và Vịnh Thái Lan”, hiện đang trong quá trình hoàn thiện, phê duyệt văn kiện.
Bước vào giai đoạn 2025 - 2030, Viện Khoa học môi trường, B&HĐ tiếp tục triển khai các PTTĐ hướng tới mục tiêu “Đổi mới - sáng tạo - hiệu quả - bền vững”. Cùng với đó, Viện cũng xác định các hướng nghiên cứu phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời bám sát xu thế toàn cầu và các chiến lược quốc gia của Việt Nam như tăng trưởng xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn.
Trọng tâm của giai đoạn tới bao gồm: Phục vụ hoàn thiện pháp luật và thực thi chính sách, nghiên cứu tiêu chuẩn môi trường biển, điều phối liên ngành, thúc đẩy mô hình xanh và tuần hoàn; nghiên cứu phục vụ triển khai quy hoạch không gian biển và vùng bờ: Điều chỉnh quy hoạch phù hợp không gian biển quốc gia, phát triển năng lượng tái tạo và khai thác tài nguyên biển bền vững; ứng dụng công nghệ hiện đại: Phát triển hệ thống quan trắc môi trường thông minh, sử dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn; nghiên cứu, phát triển các hệ thống hỗ trợ quản trị môi trường, B&HĐ thông minh, gắn với chuyển đổi số; nghiên cứu và triển khai các giải pháp tái chế, tái sử dụng chất thải, phát triển công nghiệp tái chế chất thải nhựa, khai thác tài nguyên theo nguyên lý tuần hoàn, bền vững.