Thị trường carbon và chuyển dịch mô hình kinh tế xanh

Thị trường carbon và chuyển dịch mô hình kinh tế xanh

Thứ sáu, 11/9/2026, 06:19 (GMT+7)
logo Cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 tại Hội nghị COP26 không thuần túy là một nghĩa vụ khí hậu quốc tế, mà là cơ hội to lớn để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi từ phương thức phát triển truyền thống sang nền kinh tế xanh, carbon thấp, nhằm hóa giải các áp lực về tài nguyên, môi trường, đồng thời kiến tạo những động lực phát triển mới, bền vững cho đất nước.
trang-49_1788508549.jpg
Thị trường tín chỉ carbon khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải - Ảnh: Đỗ Hương

Sức ép từ rào cản xanh toàn cầu

Nhìn lại tiến trình phát triển, trong nhiều năm qua, các mục tiêu về môi trường và khí hậu tại Việt Nam thường được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ bảo vệ tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm hoặc thực hiện các cam kết quốc tế mang tính nghĩa vụ. Tuy nhiên, những biến động sâu sắc của cục diện kinh tế thế giới trong những năm gần đây đã định hình một thực tế hoàn toàn mới: Khí hậu và phát triển ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau. Xu thế trung hòa carbon, thúc đẩy năng lượng tái tạo, phát triển công nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và tài chính xanh không còn là dự báo mà đã trở thành chiến lược hành động cụ thể của hàng loạt quốc gia.

Tại Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026” tổ chức ngày 8/7 với chủ đề “Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero” đã tiếp tục khẳng định tính thời sự và cấp bách của xu thế này. Phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã chỉ rõ yêu cầu chiến lược mà Việt Nam phải hướng tới: “Tăng trưởng nhanh hơn nhưng phải xanh hơn, hội nhập sâu hơn nhưng phải bền vững hơn, thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn gắn liền với chất lượng cao hơn”. Định hướng này phản ánh thực tế, các tiêu chuẩn môi trường khắt khe đang dần trở thành một phần không thể tách rời của thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều thị trường lớn trên thế giới hiện nay không chỉ quan tâm đến chất lượng, giá cả sản phẩm mà còn đặc biệt chú trọng đến dấu chân carbon, mức độ phát thải và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững của nhà sản xuất. Thực tế cho thấy, nhiều tập đoàn toàn cầu hiện đã đưa tiêu chí phát thải thấp, sử dụng năng lượng tái tạo cùng sự minh bạch về dữ liệu môi trường trở thành điều kiện tiên quyết trong việc lựa chọn đối tác và chuỗi cung ứng. Điều này minh chứng rằng chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện hay xu hướng của tương lai xa, mà đang là yêu cầu trực diện, mang tính sống còn của hiện tại đối với mọi nền kinh tế. 

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh của một quốc gia sẽ không chỉ được đo đếm thuần túy bằng quy mô GDP hay chi phí sản xuất rẻ, mà còn được quyết định bởi khả năng thích ứng với các xu hướng phát triển mới, trình độ đổi mới công nghệ và mức độ tham gia vào các chuỗi giá trị xanh toàn cầu.

Đối với Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2025 ghi nhận sự phục hồi và tăng trưởng hết sức tích cực của nền kinh tế. Theo Báo cáo tổng quan hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 của nước ta đạt khoảng 8,02%, thuộc nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng cao trong khu vực. Dẫu vậy, song hành cùng những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng lại là áp lực ngày càng đè nặng lên hệ thống tài nguyên và môi trường. Hiện nay, dân số cả nước đã vượt ngưỡng 102 triệu người; tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 43%; đồng thời lượng chất thải rắn sinh hoạt tiếp tục gia tăng với mức trung bình từ 4-5% mỗi năm. Thực tế này phản ánh một nghịch lý và là một hồi chuông cảnh báo: Mô hình tăng trưởng hiện tại của chúng ta đang đứng trước yêu cầu bắt buộc phải chuyển đổi để thích ứng kịp thời với các sức ép mới về năng lượng, tài nguyên, môi trường và khí hậu.

Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là tăng trưởng không chỉ cần nhanh hơn mà còn phải hiệu quả hơn, tiết kiệm tài nguyên hơn, đồng thời phải thiết lập được khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc khó lường về môi trường và khí hậu toàn cầu. Chuyển đổi xanh đã và đang trở thành một bộ phận hữu cơ cấu thành quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. BĐKH tiếp tục là một trong những thách thức lớn nhất của thế giới hiện nay, nhưng lịch sử phát triển cũng chứng minh rằng, những quốc gia biết chủ động biến thách thức thành động lực đổi mới thường là những quốc gia có bước bứt phá mạnh mẽ nhất.

Phát triển thị trường carbon và thúc đẩy chuyển dịch mô hình kinh tế xanh

Nhận thức rõ Net Zero là xu thế phát triển chủ đạo và là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng, Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận chủ động. Ngay sau khi đưa ra cam kết Net Zero vào năm 2050 tại Hội nghị COP26, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo một cách quyết liệt việc thực hiện đổi mới thể chế, chiến lược, quy hoạch và triển khai thực hiện trên thực tế. Bước đầu, hệ thống giải pháp này đã tạo dựng được hành lang pháp lý, tạo đột phá quan trọng trong tháo gỡ các điểm nghẽn, đồng thời đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc chuyển đổi xanh, phát triển nền kinh tế carbon thấp. Lộ trình thực hiện mục tiêu Net Zero đã được cụ thể hóa rõ ràng cho từng giai đoạn, bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu mang tính chiến lược này, tại Diễn đàn “Năng lượng và môi trường thế giới - Việt Nam” (tổ chức ngày 8/7/2026), Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Công Thành đã nêu rõ cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ 5 định hướng lớn trong lộ trình đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050:

Một là, hoàn thiện thể chế: Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về giảm phát thải khí nhà kính. Trọng tâm là tăng cường công tác kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về BĐKH; đồng thời tập trung tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch để khuyến khích các doanh nghiệp và mọi chủ thể kinh tế chủ động tham gia sâu rộng vào quá trình chuyển đổi xanh.

Hai là, phát triển thị trường carbon trong nước: Đây là bước đi có ý nghĩa then chốt nhằm tạo ra một công cụ kinh tế hữu hiệu hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính với chi phí hợp lý, đồng thời mở ra cơ hội huy động các nguồn lực xã hội lớn cho quá trình chuyển đổi xanh. Việc hình thành thị trường này là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam thích ứng tốt với các xu hướng và yêu cầu mới từ các thị trường quốc tế. Thị trường carbon sẽ góp phần đắc lực tạo lập tín hiệu thị trường rõ nét cho các hoạt động đầu tư xanh, kích thích đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Đây không chỉ là công cụ kiểm soát, hỗ trợ giảm phát thải mà còn mở ra cơ hội lớn để doanh nghiệp chủ động tham gia vào các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon, đồng thời tiếp cận sâu hơn với các nguồn lực tài chính xanh, các quỹ đầu tư khí hậu và dòng vốn ESG trên toàn cầu. Hiện nay, Bộ NN&MT đã thực hiện thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho 110 cơ sở thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt, thép, sản xuất xi măng cho hai năm 2025 và 2026. Đặc biệt, ngày 29/6 vừa qua, sàn giao dịch carbon trong nước đã chính thức đi vào vận hành, tạo lập nền tảng pháp lý và kỹ thuật vững chắc cho hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính cùng tín chỉ carbon của quốc gia.

Ba là, bảo đảm an ninh năng lượng gắn với chuyển dịch năng lượng xanh, bền vững: Việt Nam kiên định lập trường bảo đảm an ninh năng lượng là điều kiện tiên quyết, không thể tách rời cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của Việt Nam tiếp tục gia tăng nhanh chóng cùng yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới, việc bảo đảm cung ứng đủ năng lượng cho đất nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để giải quyết bài toán này, Chính phủ đã chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách thúc đẩy phát triển điện, năng lượng tái tạo và năng lượng mới, chú trọng phát triển các dự án điện gió ngoài khơi, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Quá trình chuyển dịch năng lượng đang được thúc đẩy mạnh mẽ theo hướng xanh, bền vững, vừa từng bước giảm cường độ phát thải của toàn nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, phù hợp hoàn toàn với điều kiện thực tiễn của đất nước.

Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong các ngành kinh tế: Quá trình chuyển đổi xanh đang được triển khai một cách đồng bộ và ngày càng mạnh mẽ trong các lĩnh vực từ công nghiệp, giao thông, xây dựng, đến nông nghiệp và dịch vụ. Việc tích cực ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên sẽ góp phần quan trọng tạo ra các mô hình sản xuất, tiêu dùng bền vững hơn, nâng cao rõ rệt năng suất, chất lượng cùng sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế.

Trong tiến trình này, cộng đồng doanh nghiệp được xác định giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động chuyển đổi. Những doanh nghiệp tiên phong đi đầu trong đổi mới công nghệ, tối ưu hóa năng lượng, phát triển các dòng sản phẩm xanh và thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn ESG sẽ chiếm lĩnh được nhiều lợi thế vượt trội trong việc tiếp cận các thị trường quốc tế, thu hút dòng vốn đầu tư và nâng cao giá trị thương hiệu. Chẳng hạn, trong lĩnh vực công nghiệp, các cơ chế như CBAM của Liên minh châu Âu đang tạo ra sức ép lớn nhưng cũng đồng thời mở ra động lực cốt lõi để doanh nghiệp cải tiến công nghệ. Đối với ngành nông nghiệp, chuyển đổi xanh mở ra cơ hội phát triển các mô hình sản xuất phát thải thấp, tận dụng triệt để các phụ phẩm để nâng cao giá trị gia tăng, tạo tiềm năng lớn vững bước tham gia thị trường carbon. Đối với phát triển đô thị, Net Zero là cơ hội để xây dựng các đô thị đáng sống, tích hợp giao thông xanh, hạ tầng xanh nhằm tăng cường khả năng chống chịu trước thiên tai.

Năm là, phát huy vai trò của các hệ sinh thái tự nhiên trong hấp thụ và lưu giữ carbon: Sở hữu lợi thế tự nhiên quan trọng với hệ thống sinh thái rừng, đất ngập nước, hệ sinh thái biển và ven biển phong phú, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc hấp thụ và lưu giữ carbon. Các chương trình hành động quốc gia về thích ứng với BĐKH, bảo vệ môi trường, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng, đất ngập nước biển và ven biển đang được Nhà nước thúc đẩy mạnh mẽ. Việc bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái này không chỉ có ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học, gia tăng khả năng chống chịu trước BĐKH mà còn mở ra không gian phát triển thị trường tín chỉ carbon, tạo lập sinh kế bền vững, ổn định cho người dân và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển xanh của đất nước, biến tiềm năng sinh thái thuần túy thành nguồn lực kinh tế xanh thực thụ.

Lộ trình Net Zero của Việt Nam là lộ trình chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, phát thải thấp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo dựng những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Chuyển đổi xanh đang mở ra một không gian phát triển mới cho toàn thế giới và cho riêng Việt Nam. Đối diện với tương lai, bức tranh toàn cầu đang có sự dịch chuyển căn bản, và Việt Nam đã lựa chọn thế chủ động: Chủ động thích ứng, chủ động chuyển đổi và chủ động nắm bắt thời cơ để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, hiệu quả hơn. Với sự quyết tâm cao độ của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận và đồng hành chặt chẽ của cộng đồng doanh nghiệp, sự hỗ trợ quý báu của các đối tác quốc tế cùng tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng của toàn xã hội, nước ta hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, thực tiễn và niềm tin để hiện thực hóa thành công mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

 

TS. Nguyễn Đình Đáp - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam