news
Thị trường tín chỉ các-bon là đòn bẩy nâng cao giá trị nông sản

Thị trường tín chỉ các-bon là đòn bẩy nâng cao giá trị nông sản

Thứ năm, 12/2/2026, 06:40 (GMT+7)
logo Giảm phát thải khí nhà kính đang trở thành yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tại Quảng Trị, cùng với việc thúc đẩy công nghiệp phát triển theo hướng xanh và tiết kiệm năng lượng, tỉnh đang từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp các-bon thấp, hướng tới tham gia thị trường tín chỉ các-bon. Khi nông sản địa phương tham gia mô hình tín chỉ các-bon, giá trị không chỉ nằm ở sản lượng mà còn giúp người nông dân phát triển bền vững. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Trần Quốc Tuấn – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị xung quanh vấn đề này.

PV: Thưa ông, thời gian qua Quảng Trị là một trong những địa phương từng bước hình thành các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp các-bon thấp, hướng tới tham gia thị trường tín chỉ các-bon. Ông có thể cho biết những hành động cụ thể của tỉnh trong lĩnh vực này?

Ông Trần Quốc Tuấn: Hướng tới mục tiêu tham gia thị trường các-bon tại Việt Nam, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động số 2065/KH-UBND ngày 03/11/2022 về giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Quảng Trị đóng góp vào mục tiêu chung của cả nước theo Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 05/8/2022, bảo đảm tổng lượng phát thải khí mê-tan không vượt quá 77,9 triệu tấn CO₂ tương đương, giảm ít nhất 30% so với năm 2020. Trong đó, phát thải khí mê-tan trong trồng trọt không vượt quá 30,7 triệu tấn CO₂tđ, chăn nuôi không vượt quá 15,2 triệu tấn CO₂tđ.

hh_1770713930.jpg
Tỉnh Quảng Trị đóng góp vào mục tiêu cắt giảm phát thải khí mê-tan của cả nước, trong đó, phát thải khí mê-tan trong trồng trọt không vượt quá 30,7 triệu tấn CO2tđ, chăn nuôi không vượt quá 15,2 triệu tấn CO2tđ

Để hiện thực hóa mục tiêu này, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch hành động số 2636/KH-UBND ngày 31/12/2025, triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050”. Tỉnh đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Quảng Trị đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện REDD+, tập trung giảm phát thải khí nhà kính do mất và suy thoái rừng; tăng cường, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng; quản lý rừng bền vững. Các hoạt động này được triển khai phù hợp với Chương trình hành động REDD+ quốc gia, gắn phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu giảm nghèo bền vững.

1.0_1770713651.jpg
Ông Trần Quốc Tuấn - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị

Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt đối với các vùng trồng lúa theo tiêu chuẩn quốc tế như VCS, Gold Standard và các chương trình trong lĩnh vực lâm nghiệp như REDD+, ARR, IFM, theo quy định tại Thông tư số 23/2023/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

PV: Thưa ông, với những nỗ lực đồng bộ về công nghệ, quản lý và dữ liệu theo dõi phát thải, Quảng Trị đang từng bước kiến tạo mô hình sản xuất phát thải thấp, gắn trách nhiệm môi trường với lợi ích cộng đồng. Theo ông, để người dân hiểu rõ hơn về tín chỉ các-bon, tỉnh cần có những động thái cụ thể gì?

Ông Trần Quốc Tuấn: Trước hết, cần đẩy mạnh công tác truyền thông và tập huấn cho đội ngũ cán bộ cấp xã, cấp thôn về tín chỉ các-bon. Đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tuyên truyền, hướng dẫn người dân ở cơ sở.

Tiếp theo, cần tăng cường truyền thông trong cộng đồng dân cư, trường học nhằm nâng cao nhận thức về khái niệm tín chỉ các-bon theo cách đơn giản, dễ hiểu, gắn chặt với sinh kế và lợi ích thiết thực của người dân. Việc “bình dân hóa” khái niệm này thông qua các ví dụ, hình ảnh thực tế là rất quan trọng.

Người dân cần hiểu rằng mỗi cây xanh họ trồng, mỗi diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ, mỗi thửa ruộng giảm sử dụng phân bón hóa học đều có thể được đo đếm, quy đổi thành giá trị kinh tế. Có thể hình dung mỗi tín chỉ các-bon như một “chứng chỉ xanh”: khi người dân góp phần làm sạch môi trường, giảm phát thải, họ sẽ tạo ra chứng chỉ đó; và các doanh nghiệp phát thải sẽ phải mua lại. Khi lợi ích môi trường gắn trực tiếp với thu nhập, người dân sẽ chủ động tham gia và đồng hành bền vững hơn.

kh-eanh-3_1770713977.jpg
Mỗi cây xanh, mỗi cánh rừng được bảo vệ đều có thể quy đổi thành giá trị kinh tế

PV:  Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Quảng Trị là một trong 5 tỉnh được hưởng lợi từ Thỏa thuận giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Ông có thể cho biết kết quả triển khai và hiệu quả thực tế của chương trình này?

Ông Trần Quốc Tuấn: Trong giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh Quảng Trị được Trung ương phân bổ hơn 364 tỷ đồng từ nguồn ERPA để chi trả cho các đối tượng hưởng lợi. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã thực hiện chi trả hơn 347 tỷ đồng, đạt trên 95% kế hoạch, cho các chủ rừng được Nhà nước giao quản lý rừng tự nhiên.

Các đối tượng thụ hưởng gồm: ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; các công ty nông, lâm nghiệp; UBND cấp xã có quản lý rừng; lực lượng vũ trang, doanh nghiệp tư nhân và các hộ gia đình, cá nhân. Nguồn chi trả ERPA được sử dụng cho nhiều nội dung, như: hỗ trợ các hoạt động lâm nghiệp gián tiếp nhằm giảm phát thải khí nhà kính; các hoạt động trực tiếp bảo vệ rừng tự nhiên, áp dụng biện pháp lâm sinh; hỗ trợ phát triển sinh kế cho cộng đồng và công tác quản lý.

bach_1770713862.webp
Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã chi trả hơn 347 tỷ đồng/364 tỷ đồng đạt trên 95% cho các chủ rừng được nhà nước giao quản lý rừng tự nhiên như các BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ...

Sau 3 năm thí điểm, việc triển khai ERPA tại Quảng Trị được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng quy định. Chương trình đã góp phần duy trì ổn định diện tích rừng tự nhiên, bảo vệ hệ sinh thái, giữ vững tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh ở mức 61,47%, đồng thời đóng góp thiết thực vào việc thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Quan trọng hơn, các khoản chi trả từ ERPA đã mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sống gần rừng; hỗ trợ tuần tra bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế, nâng cao năng lực cộng đồng. Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn cũng được triển khai thường xuyên, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong bảo vệ rừng và thực hiện các chính sách tài chính các-bon.

Từ những kết quả đạt được, Quảng Trị đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách chi trả cho hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng trong thời gian tới, qua đó huy động hiệu quả hơn nguồn lực tài chính cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, tạo nền tảng cho việc tham gia sâu hơn vào thị trường các-bon trong tương lai.

phong-nha_1770713717.jpg
Quảng Trị đang trong quá trình xây dựng các chính sách chi trả hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng trong tương lai

PV: Theo ông, thị trường chứng chỉ các-bon mang lại những cơ hội gì cho nông sản địa phương khi tham gia các mô hình tín chỉ các-bon?

Ông Trần Quốc Tuấn: Thị trường chứng chỉ các-bon không đơn thuần là việc bán “lượng phát thải giảm được”, mà còn là đòn bẩy nâng cao giá trị nông sản địa phương. Khi tham gia các mô hình tín chỉ các-bon, giá trị của nông sản không chỉ được đo bằng sản lượng hay giá bán, mà còn nằm ở quy trình sản xuất ít phát thải, thân thiện với môi trường, bảo vệ đất và hệ sinh thái.

Thông qua đó, nông sản địa phương có điều kiện tiếp cận các thị trường cao cấp, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh, bền vững. Đối với người nông dân, lợi ích từ việc bán tín chỉ các-bon có thể bù đắp chi phí chuyển đổi kỹ thuật, giảm áp lực phụ thuộc vào biến động giá nông sản, đồng thời tạo thêm nguồn thu ổn định bên cạnh thu nhập từ sản xuất.

Quan trọng hơn, mô hình này giúp người dân thay đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường”, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.

kkkk_1770713960.jpg
Nguồn thu từ việc bán tín chỉ các-bon có thể bù vào chi phí chuyển đổi kỹ thuật, giảm phụ thuộc vào giá nông sản lên xuống

PV: Vậy chính sách của địa phương đã có bước chuẩn bị gì khi tham gia thị trường carbon?

Ông Trần Quốc Tuấn: Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các nghị định của Chính phủ về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon, tỉnh Quảng Trị đã chủ động xây dựng và hoàn thiện khung chính sách làm nền tảng tham gia thị trường này.

Cụ thể, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2025–2030, tầm nhìn đến năm 2050; đồng thời phê duyệt việc kiểm kê khí nhà kính và đề xuất các giải pháp quản lý, giảm nhẹ phát thải trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương nghiêm túc triển khai các quy định pháp luật liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính, thị trường các-bon và bảo vệ tầng ô-dôn.

kh-sanh-1_1770714393.jpg
Quảng Trị khuyến khích các mô hình sản xuất, dịch vụ ít phát thải, phù hợp quy định pháp luật và cam kết quốc tế

Bên cạnh đó, tỉnh khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, chủ trang trại và người dân áp dụng các quy trình sản xuất, dịch vụ ít phát thải; từng bước tham gia các cơ chế hợp tác, dự án giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với quy định pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trân trọng cám ơn ông!

 

Đinh Loan