Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh - nền tảng cho phát triển xanh và bền vững

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh - nền tảng cho phát triển xanh và bền vững

Thứ tư, 25/3/2026, 17:55 (GMT+7)
logo Trước áp lực dịch bệnh, chi phí sản xuất và yêu cầu phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số ngành Chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, việc xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh và phát triển theo chuỗi giá trị sẽ là chìa khóa để nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh của ngành. Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, Thứ trưởng đã trao đổi về những định hướng lớn để thúc đẩy chăn nuôi Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
img-20220801-145047-20220801145415-16935606441461165669589_1774403931.webp
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến

Phóng viên: Thưa Thứ trưởng, ông đánh giá như thế nào về bức tranh chung của ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Từ một nền chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, mặc dù hạn hạn chế về diện tích đất đai (đúng thứ 66 thế giới), dân số đông (đứng thứ 16) nhưng đến nay ngành chăn nuôi Việt Nam đã chuyển đổi mạnh mẽ sang chăn nuôi tập trung, hàng hoá, từng bước gắn với giết mổ, chế biến tập trung, công nghiệp, nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần đảm bảo sinh kế, an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, được thế giới biết đến về năng lực sản xuất. Năng lực sản xuất không chỉ đảm bảo nguồn cung cho nội địa (100 triệu dân và hơn 20 triệu khách du lịch) mà còn tham gia vào hệ thống thực phẩm của thế giới. Thành tựu này đã được Đảng, Chính phủ và xã hội ghi nhận nên tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Trung ương, địa phương, người chăn nuôi và đặc biệt là các nhà đầu tư trong và nước ngoài.

Chỉ trong vòng 15 năm kể từ năm 2010, giá trị của ngành Chăn nuôi và Thú y đã tăng 4,5 -5,93% và đạt khoảng 33 tỷ USD, chiếm 26% GDP và là một trong 3 ngành đóng góp quan trọng vào mức tăng trưởng chung của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Năm 2025, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn nhưng ngành đã cung câp 8,66 triệu tấn thịt hơi các loại, 21,4 tỷ quả trứng, 1,3 triệu tấn sữa tươi và nhiều sản phẩm khác như mật ong, tổ yến để duy trì tăng trưởng giá trị sản xuất chăn nuôi 4,5%/năm. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi năm 2025 đạt 628 triệu USD, xuất khẩu các sản phẩm thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1,6 tỷ USD, đã có 2,409 loại thuốc thú y và 7 loại vắc xin thú y xuất khẩu đến 46 quốc gia/vùng lãnh thổ, đem lại giá trị xuất khẩu bình quân trên 42,8 triệu USD/năm.

Tuy nhiên, ngành cũng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Dịch bệnh trên vật nuôi vẫn diễn biến phức tạp. Chẳng hạn, trong năm 2025 cả nước xảy ra 2.782 ổ dịch dịch tả lợn châu Phi tại 34 tỉnh, thành phố, buộc phải tiêu hủy hơn 1,27 triệu con lợn; bệnh cúm gia cầm xảy ra tại 58 ổ dịch ở 16 tỉnh với hơn 123.000 con gia cầm bị tiêu hủy.

Bên cạnh đó, chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ lệ lớn, việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học chưa đồng đều, trong khi yêu cầu về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn xuất khẩu ngày càng cao.

Trong bối cảnh đó, ngành chăn nuôi cần phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình hiện đại, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kiểm soát dịch bệnh tốt hơn, đồng thời xây dựng hệ sinh thái sản xuất và chuỗi giá trị bền vững.

Phóng viên: Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững ngày 12/3 vừa qua, Thứ trưởng đã đề xuất những nhóm giải pháp thúc đẩy chăn nuôi bền vững. Xin Thứ trưởng chia sẻ rõ hơn về định hướng này?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Các giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết đồng bộ những vấn đề cốt lõi của ngành chăn nuôi hiện nay.

Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp và người chăn nuôi phát triển sản xuất. Song song với đó là củng cố hệ thống quản lý nhà nước và mạng lưới thú y cơ sở, bảo đảm năng lực giám sát, phát hiện và xử lý dịch bệnh kịp thời.

Một giải pháp rất quan trọng là đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong chăn nuôi. Các công nghệ về giống, thức ăn, môi trường,đặc biệt đưa công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) công nghệ số vào quản trị dữ liệu vừa tối ưu hoá hoạt động sản xuất giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh vừa là cơ sở để quản lý truy xuất nguồn gốc theo hướng minh bạch hoá thông tin, qua đó quản trị ngành tốt hơn.

Ngoài ra, ngành cũng cần phát triển công nghiệp phụ trợ cho chăn nuôi, môi trường, đào tạo nguồn nhân lực hợp tác quốc tế. Đầu tư xây dựng củng cố cơ sở vật chất, trang thiết bị,..chẳng hạn như sản xuất trang thiết bị chăn nuôi, thức ăn, thuốc thú y,…. Đây là yếu tố quan trọng để giảm chi phí sản xuất và tăng tính chủ động cho ngành.

Cùng với đó là các giải pháp về kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm, phát triển chế biến sâu, xây dựng chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Phóng viên: Kiểm soát dịch bệnh được xem là yếu tố then chốt của phát triển chăn nuôi bền vững, vậy Ngành sẽ tập trung vào những giải pháp gì trong thời gian tới thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Trong điều kiện khá đặc thù về hình thái khí hậu, chăn nuôi nông hộ, hệ thống phân phối sản phẩm chăn nuôi nhỏ lẻ, thói quen tiêu dung khác biệt của Việt Nam, nguy cơ phát sinh bùng phát dịch là rất lớn, ngành đã xác định việc xây dựng hệ thống phòng chống dịch bệnh hiệu quả là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.

Trước hết là triển khai an toàn sinh học, tăng cường giám sát dịch bệnh và tiêm phòng vắc xin. Hiện nay, năng lực sản xuất và cung ứng vắc xin trong nước đã được nâng cao. Chẳng hạn, năm 2025 đã sản xuất và nhập khẩu trên 918 triệu liều vắc xin cúm gia cầm và hơn 41 triệu liều vắc xin lở mồm long móng.

Bên cạnh đó, ngành đang đẩy mạnh xây dựng vững, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế. Đến nay, cả nước đã có hơn 3.600 vùng và cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và mở rộng xuất khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát dịch bệnh, thông qua hệ thống báo cáo dịch bệnh trực tuyến để nâng cao khả năng cảnh báo và dự báo nguy cơ.

Phóng viên: Trong hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, vai trò của các yếu tố như giống, thức ăn và thuốc thú y được nhìn nhận như thế nào thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Để ngành chăn nuôi phát triển bền vững, cần xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố đầu vào và đầu ra phải được kết nối chặt chẽ.

Về giống vật nuôi, chúng tôi đang thúc đẩy nghiên cứu, chọn tạo giống năng suất cao, đồng thời bảo tồn nguồn gen quý của các giống bản địa. Việc ứng dụng các công nghệ mới như thụ tinh nhân tạo, công nghệ sinh học và quản lý giống bằng dữ liệu số sẽ giúp nâng cao chất lượng đàn giống.

Về thức ăn chăn nuôi, đây là yếu tố chiếm tỷ trọng chi phí lớn nhất trong sản xuất. Năm 2025, sản lượng thức ăn hỗn hợp đạt 22,12 triệu tấn, tăng 2,9% so với năm trước.  Tuy nhiên, ngành vẫn phụ thuộc khá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, với tổng khối lượng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lên tới 24,78 triệu tấn, trị giá hơn 8,2 tỷ USD.

Do đó, trong thời gian tới Bộ sẽ thúc đẩy phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và ứng dụng công nghệ sinh học để giảm chi phí và bảo vệ môi trường.

Phóng viên: Theo Thứ trưởng, doanh nghiệp và các chuỗi liên kết sẽ đóng vai trò như thế nào trong sự phát triển của ngành chăn nuôi?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt trong việc hình thành và phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi. Khi doanh nghiệp đầu tư vào các khâu từ giống, thức ăn, chăn nuôi, giết mổ, chế biến đến phân phối, chuỗi giá trị sẽ được hoàn thiện và hiệu quả sản xuất được nâng cao.

Bên cạnh đó, các hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa doanh nghiệp với người chăn nuôi, giúp tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, chăn nuôi an toàn sinh học và chế biến sâu.

Phóng viên: Thứ trưởng có kỳ vọng gì về triển vọng của ngành chăn nuôi Việt Nam trong giai đoạn tới?

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Tôi cho rằng triển vọng của ngành chăn nuôi Việt Nam trong những năm tới là rất lớn, nhưng triển vọng đó chỉ trở thành hiện thực nếu chúng ta thực hiện được quá trình tái cấu trúc ngành một cách căn cơ, hướng tới mô hình chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh và phát triển bền vững.

Trước hết, Việt Nam có lợi thế rất rõ về quy mô thị trường và nhu cầu tiêu thụ. Với hơn 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của ngành chế biến thực phẩm, du lịch và dịch vụ, nhu cầu đối với thịt, trứng, sữa và các sản phẩm chăn nuôi vẫn tiếp tục tăng. Đây là nền tảng quan trọng để ngành chăn nuôi phát triển ổn định trong dài hạn.

Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là nhiều thách thức lớn. Dịch bệnh trên vật nuôi vẫn là rủi ro thường trực. Chẳng hạn, trong năm 2025 cả nước đã xảy ra 2.782 ổ dịch dịch tả lợn châu Phi tại 34 tỉnh, thành phố, buộc phải tiêu hủy hơn 1,27 triệu con lợn, cùng với 58 ổ dịch cúm gia cầm tại 16 tỉnh, tiêu hủy hơn 123 nghìn con gia cầm. Những con số này cho thấy nếu không kiểm soát tốt dịch bệnh thì mọi nỗ lực tăng trưởng đều có thể bị ảnh hưởng.

Chính vì vậy, trong giai đoạn tới chúng tôi kỳ vọng ngành chăn nuôi sẽ chuyển mạnh sang mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Hiện nay cả nước đã có hơn 3.600 vùng và cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, trong đó có 2.239 cơ sở trên lợn, đây là tiền đề rất quan trọng để phát triển thị trường trong nước cũng như mở rộng xuất khẩu.

Bên cạnh đó, triển vọng của ngành cũng phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi hoàn chỉnh. Hệ sinh thái đó bao gồm từ giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, vaccine, công nghệ chuồng trại, đến hệ thống giết mổ, chế biến và phân phối. Khi các khâu này được liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị, chi phí sản xuất sẽ giảm, chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt hơn và khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam sẽ được nâng lên.

Một hướng đi quan trọng khác là đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong chăn nuôi. Từ quản lý giống, giám sát dịch bệnh, đến truy xuất nguồn gốc và dự báo thị trường, tất cả đều cần dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đây là xu hướng tất yếu của chăn nuôi hiện đại trên thế giới.

Ngoài ra, chúng tôi cũng kỳ vọng, ngành chăn nuôi sẽ phát triển theo hướng xanh và tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn, ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong nước mà còn phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.

Tôi tin rằng với sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, người chăn nuôi và các nhà khoa học, cùng với lợi thế thị trường lớn và tiềm năng phát triển công nghệ, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại, đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng nông nghiệp và phát triển kinh tế đất nước.

Những định hướng mà Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chia sẻ cho thấy ngành Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng, từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh và phát triển theo chuỗi giá trị. Khi các giải pháp về thể chế, khoa học công nghệ, kiểm soát dịch bệnh và liên kết thị trường được triển khai đồng bộ, ngành chăn nuôi được kỳ vọng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm an toàn thực phẩm và đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng nông nghiệp bền vững.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Hồng Minh (thực hiện)