Trong bối cảnh yêu cầu của thị trường đang thay đổi nhanh theo hướng minh bạch, xanh và bền vững, việc tổ chức lại sản xuất theo vùng liên kết trở thành đòi hỏi cấp bách của nông nghiệp Việt Nam. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với bà Trần Thị Hoà, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật về thực trạng triển khai, những rào cản cũng như định hướng sắp tới nhằm xây dựng chuỗi giá trị xanh đồng bộ, đáp ứng cả thị trường trong nước và quốc tế.
Phóng viên: Thưa bà, hiện nay việc liên kết vùng trong sản xuất trồng trọt đang được triển khai ra sao, và đâu là những rào cản lớn nhất khiến chuỗi giá trị xanh chưa phát huy hết tiềm năng?
Bà Trần Thị Hoà: Từ khi Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Nghị định 98/2018/NĐ-CP) đến nay, đã có khoảng 2000 dự án, mô hình liên kết chuỗi trong lĩnh vực trồng trọt được triển khai và nhân rộng.
Trong những năm gần đây, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị xanh trong trồng trọt, hướng tới mục tiêu giảm tác động môi trường, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và nâng cao giá trị kinh tế. Các chính sách tiêu biểu như Nghị định 98/2018 về liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản, Thông tư 19/2019 về thu gom và sử dụng phụ phẩm cây trồng, các đề án về kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải trong nông nghiệp. Những chính sách này tạo nền tảng để xây dựng chuỗi liên kết đồng bộ từ đầu vào (đất, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) đến canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xử lý phụ phẩm.
Kết quả cho thấy trong 6 năm qua đã có 1.969 dự án liên kết chuỗi trong trồng trọt. Điển hình như Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, đề án đã bước đầu đạt được những kết quả nổi bật như: giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho nông dân từ 4,6 - 15,8 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình, giảm lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời giúp thu gom và xử lý rơm rạ hiệu quả. Các mô hình thí điểm đã thu hút nhiều nông dân, HTX và doanh nghiệp tham gia liên kết, cho thấy hiệu quả tích cực và mở ra cơ hội nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng để phát huy các tiềm năng, lợi thế của hoạt động liên kết vùng, xây dựng chuỗi liên kết xanh trong sản xuất vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức do liên kết giữa các chủ thể chưa chặt chẽ, năng lực HTX và doanh nghiệp nhỏ còn yếu, thói quen canh tác truyền thống khó thay đổi; sự chênh lệch về năng lực quản lý và cơ sở hạ tầng giữa các vùng và việc tiếp cận nguồn vốn cho sản xuất xanh còn hạn chế.
Do đó, để thúc đẩy chuỗi giá trị xanh phát triển bền vững, cần: (1) tiếp tục hoàn thiện thể chế, đặc biệt là cơ chế tín dụng xanh và tiêu chuẩn phát thải; (2) nâng cao năng lực HTX và doanh nghiệp; (3) đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, số hóa; xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn; (4) củng cố liên kết giữa nông dân – doanh nghiệp – nhà khoa học – ngân hàng và nhà nước; (5) huy động nguồn lực tài chính cho sản xuất giảm phát thải; và (6) tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức.
Phóng viên: Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật có những định hướng hoặc giải pháp cụ thể nào nhằm thúc đẩy mô hình liên kết vùng, đặc biệt trong quản lý dịch hại, tiêu chuẩn chất lượng và giảm sử dụng hóa chất để hình thành chuỗi giá trị xanh bền vững?
Bà Trần Thị Hoà: Tiếp nối thành công của Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã tham mưu, trình bộ ban hành Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt 2025–2035, tầm nhìn đến 2050”, mục tiêu đến năm 2050, ngành trồng trọt Việt Nam sẽ phát triển theo hướng phát thải thấp, sinh thái và hiện đại, trở thành trụ cột quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh của nền nông nghiệp quốc gia. Hoạt động sản xuất trồng trọt được tổ chức theo chuỗi giá trị tuần hoàn, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và nông nghiệp thông minh, đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước và vật tư đầu vào, đồng thời kiểm soát, hấp thụ và bù đắp phát thải một cách thực chất,..
Bên cạnh đó, để quản lý dịch hại và dinh dưỡng cây trồng, giảm phát thải, Cục đã trình bộ ban hành các đề án như: (1) “Đề án phát triển sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050”, với mục tiêu: Khai thác tiềm năng, lợi thế nguyên liệu hữu cơ sẵn có để sản xuất phân bón hữu cơ góp phần giảm ô nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, cân đối dinh dưỡng vô cơ-hữu cơ để duy trì và nâng cao sức khỏe đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. (2) “Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, mục tiêu nhằm đẩy mạnh sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học góp phần phát triển một nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái, an toàn và bền vững; nâng cao tiềm lực nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ hiện đại trong sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. (3) và “Đề án nâng cao sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng cây trồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” hướng tới ổn định và nâng cao sức khỏe đất trồng trọt trên cơ sở quản lý dinh dưỡng cây trồng hiệu quả nhằm hạn chế suy thoái đất, nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt (bao gồm đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm), góp phần phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, các-bon thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đi kèm theo các Đề án sẽ là chuỗi hoạt động, giải pháp tổng thể và huy động các nguồn lực cùng chung tay tham gia vì một nền sản xuất xanh, bền vững, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phóng viên: Trong thời gian tới, Cục sẽ phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã như thế nào để bảo đảm tính đồng bộ giữa vùng sản xuất – chế biến – tiêu thụ, qua đó tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường trong nước và quốc tế?
Bà Trần Thị Hoà: Để đảm bảo tính đồng bộ giữa vùng sản xuất, chế biến, tiêu thụ cần sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công thương và UBND các tỉnh, thành phố. Về mặt chuyên môn thì cần sự đồng hành, vào cuộc của các cơ quan chuyên môn thuộc các bộ trên, địa phương và người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong khâu sản xuất thì để tăng khả năng truy suất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường. Trong thời gian tới, Cục sẽ triển khai, thực hiện một số nội dung:
Về mặt thể chế: Cục đã tham mưu với Bộ trình Chính phủ, Quốc hội sửa Luật Trồng trọt, trong đó bổ sung quy định về xây dựng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, trên cơ sở đó sẽ có quy trình, thủ tục thực hiện cấp, quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nhằm truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ khâu sản xuất. Bên cạnh đó, việc triển khai, thực hiện các Đề án đã nêu ở trên là các giải pháp tổng thể, căn cơ nhằm hướng tới hình thành và nhân rộng các chuỗi giá trị xanh trong trồng trọt.
Để để bảo đảm tính đồng bộ giữa vùng sản xuất - chế biến - tiêu thụ, qua đó tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường, trong thời gian tới, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã một số hoạt động như: (1) Hướng dẫn các địa phương lập kế hoạch phát triển liên kết theo chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu nông sản hàng hóa tập trung; (2) Hướng dẫn các địa phương xây dựng tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt vùng nguyên liệu sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung phù hợp với từng loại hình sản xuất và điều kiện của địa phương; (3) Hướng dẫn các địa phương chủ động ban hành bổ sung danh mục các loại máy móc, trang thiết bị, phương tiện ưu tiên hỗ trợ liên kết cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của từng địa phương.