news

Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khí tượng thủy văn

Thứ năm, 30/1/2025, 11:07 (GMT+7)
logo Những năm qua, ngành Khí tượng Thủy văn (KTTV) luôn nỗ lực phấn đấu, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước; chú trọng nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, với đích đến đặt ra là xây dựng, phát triển năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo thiên tai đạt trình độ tương đương các nước dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á.

Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khí tượng thủy văn

Chú trọng công tác quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn

Thể chế về quản lý KTTV được tăng cường, trước năm 2013, ngành KTTV được quản lý thông quá các quy chế, quy phạm ngành. Năm 2015, ngành KTTV đã trình Quốc hội và được thông qua Luật KTTV, từ khi có Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đã được ban hành: 01 Nghị định của Chính phủ, 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 20 Thông tư, trong đó có Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai.

Tổng cục KTTV được tái thành lập đã góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước về KTTV. Đặc biệt, năm 2021 đã trình Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị về công tác KTTV tại Chỉ thị số 10-CT/TW nhằm thúc đẩy phát triển, tăng cường, nâng cao vai trò của ngành KTTV trong cùng tiến trình phát triển KT-XH, phòng chống thiên tai và bảo vệ chủ quyền đất nước. Năng lực giám sát BĐKH đã có tiến bộ, mạng lưới quan trắc KTTV được bổ sung và hiện đại hóa: Mạng lưới trạm quan trắc KTTV quốc gia từng bước được củng cố và đổi mới theo hướng tự động hóa. Đề án hiện đại hoá công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc KTTV đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, góp phần nâng cao năng lực, hiện đại hóa việc điều hành tác nghiệp KTTV hàng đầu khu vực Đông Nam Á: Đến nay, mạng lưới trạm KTTV quốc gia có khoảng 1800 trạm với tỷ lệ tự động hóa các hoạt động quan trắc KTTV đạt từ 70 đến 80%; hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật của 10 trạm ra đa thời tiết.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp và thống nhất theo chuẩn quốc tế; có cơ chế phù hợp khai thác, chia sẻ thông tin, sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu: Cơ sở dữ liệu về KTTV và thiên tai KTTV, khí hậu đã được xây dựng và liên tục cập nhật. Đã xây dựng được Trung tâm dữ liệu (Data center) KTTV đạt gần tới tiêu chuẩn quốc tế. Toàn bộ dữ liệu KTTV trong và ngoài nước được tích hợp, tổ chức xử lý, lưu trữ, khai thác và cung cấp theo hướng tập trung, đồng bộ; các công tác nghiệp vụ dự báo, cảnh báo KTTV đều sử dụng dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu; Đã đầu tư hệ thống tính toán hiệu năng cao CrayXC40 (siêu máy tính) với năng lực tính toán đạt 80-100TFLOPS; Đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Trung tâm điều hành tác nghiệp KTTV từ năm 2015.

Xây dựng năng lực và công nghệ dự báo, cảnh báo KTTV, thiên tai KTTV đứng hàng đầu khu vực Đông Nam Á: Ngành KTTV Việt Nam đã nỗ lực thay đổi công tác dự báo, phát triển theo hướng hiện đại hóa, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động nhằm tạo ra các sản phẩm đa dạng, với chất lượng tốt hơn, phục vụ công tác phòng chống thiên tai, phát triển KT-XH, QP-AN. Theo đó, hệ thống dự báo đã có nhiều thay đổi, từ các dự báo thủ công, kinh nghiệm đã được chuyển đổi sang hệ thống dự báo số độ phân giải cao. 

Hệ thống pháp luật KTTV đã từng bước hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng, đảm bảo các hoạt động thường xuyên, liên tục của cả hệ thống dự báo KTTV quốc gia, từ quan trắc, truyền tin đến dự báo, cảnh báo. Trước đây, công tác dự báo chủ yếu dự báo, cảnh báo các hiện tượng thiên tai nguy hiểm như: Bão/ATNĐ, mưa lớn, nắng nóng, rét đậm, rét hại, lũ, lũ quét. Từ năm 2016, thực thiện Thông tư 41 về quy định, quy trình dự báo, cảnh báo các hiện tượng KTTV nguy hiểm số lượng các loại hình thiên tai dự báo gia tăng đáng kể, bao gồm: Bão/ATNĐ, mưa lớn diện rộng, lũ, ngập lụt; lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy; không khí lạnh; nắng nóng; hạn hán; xâm nhập mặn, dông, sét, tố, lốc, mưa đá và mưa lớn cục bộ; sương mù ven biển, sóng lớn, nước dâng trong áp thấp nhiệt đới, bão, gió mùa và triều cường. 

Bộ TN&MT đã chỉ đạo đơn vị chức năng thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ nhằm tiếp tục hiện đại hóa mạng lưới trạm quan trắc KTTV để nâng cao năng lực giám sát thiên tai, tăng thời hạn và nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai nhất là lũ quét, sạt lở nhằm phục vụ tốt hơn nữa mục tiêu phát triển bền vững các lĩnh vực KT-XH trong bối cảnh thiên tai ngày càng phức tạp. Công tác dự báo, cảnh báo sớm đã được chú trọng, trước mỗi đợt thiên tai có nguy cơ gây tác động lớn như hạn hán, bão, mưa lớn, ngập lụt diện rộng, Tổng cục KTTV đã chỉ đạo Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia chủ động có công văn gửi thông tin nhận định sớm về tình hình thiên tai đến Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai để cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định, quy trình kỹ thuật liên quan đến hoạt động KTTV, thiên tai KTTV. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đã được giao tại Nghị quyết số 76/NQ-CP về công tác phòng, chống thiên tai và Chương trình cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo thiên tai, đặc biệt là các thiên tai liên quan đến bão, nước dâng do bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên thực tiễn cho thấy hiện nay, Ngành KTTV đã và đang gặp một số thách thức. Các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế và là một trong những thách thức lớn nhất đặt ra đối với công tác KTTV. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật điều chỉnh hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện, chưa đầy đủ so với yêu cầu quản lý nhà nước về KTTV. Mạng lưới quan trắc KTTV quốc gia nhìn chung vẫn còn thưa, đặc biệt trên biển, công nghệ quan trắc tự động chưa được trang bị nhiều, do đó chưa đáp ứng yêu cầu của công tác dự báo đòi hỏi ngày càng cao và chính xác. Chưa kịp thời khắc phục, sửa chữa, thay thế linh kiện khi hư gây khó khăn đảm bảo duy trì hoạt động ổn định, liên tục và chính xác. Cơ sở vật chất và trang thiết bị quan trắc KTTV mặc dù đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng tình hình thực tế; công tác dự báo, cảnh báo đối với một số loại hình thiên tai xảy ra trong thời gian rất ngắn, phạm vi hẹp như mưa lớn cục bộ, lốc, sét, mưa đá, lũ quét, sạt lở đất còn hạn chế. Đây cũng là khó khăn chung của các cơ quan dự báo trên thế giới và cần được đầu tư nghiên cứu để cải tiến trong những năm tới.

Nâng cao công tác quản lý nhà nước, phát triển hiện đại hóa Ngành

Ngành KTTV xác định công tác KTTV là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, có tính đặc thù, liên vùng, liên ngành, xuyên biên giới, giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Các nhiệm vụ cụ thể Ngành đã, đang ưu tiên triển khai thực hiện: Triển khai thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác KTTV đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc và Chiến lược phát triển Ngành KTTV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng và thực hiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KTTV. Hiện đại hóa ngành KTTV đến năm 2030: Đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện KTTV theo hướng hiện đại, đồng bộ, tự động hoá, tích hợp đa mục tiêu; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoàn thiện phương pháp, quy trình dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát BĐKH, cơ sở dữ liệu liên thông cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu KTTV, đặc biệt là thông tin, dữ liệu về nguy cơ xảy ra các hiện tượng KTTV nguy hiểm, bất thường với độ tin cậy, chính xác cao.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đã được giao tại Nghị quyết số 76/NQ-CP về công tác phòng, chống thiên tai và Chương trình cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo thiên tai, đặc biệt là các thiên tai liên quan đến bão, nước dâng do bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn theo Quyết định số 705/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng và thực hiện Đề án cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét khu vực miền núi, trung du Việt Nam được thực hiện trên địa bàn vùng miền núi, trung du thuộc 37 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 2023 đến 2030. Mục tiêu của đề án nhằm cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét tại khu vực miền núi, trung du phục vụ phòng, chống thiên tai, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện ổn định, phát triển KT-XH, góp phần bảo đảm QP-AN. Đề án này cũng tập trung xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo sớm và hệ thống bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai sạt lở đất, lũ quét tổng thể, đồng bộ, tỷ lệ phù hợp,…

Có thể thấy, so với 10 năm trước đây, thể chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện với Luật KTTV được ban hành, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác KTTV; hệ thống trạm quan trắc được củng cố, mở rộng, hiện đại hóa; năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai được nâng lên rõ rệt và đạt trình độ hàng đầu Đông Nam Á, Việt Nam được lựa chọn là Trung tâm hỗ trợ dự báo thời tiết nguy hiểm và cảnh báo lũ quét cho các nước Đông Nam Á.

Thời gian tới, Ngành tiếp tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, khoa học hơn và toàn diện về phân vùng rủi ro thiên tai phù hợp với thực tiễn; các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai tiếp tục thực hiện dựa trên tác động để người dân, cộng đồng xã hội nắm bắt kịp thời, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong công tác chủ động phòng chống thiên tai của nhân dân. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước lĩnh vực KTTV. Bên cạnh đó thường xuyên phải rà soát, hoàn thiện các quy trình dự báo, cảnh báo KTTV, đặc biệt là các hiện tượng KTTV nguy hiểm để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống dự báo quốc gia. Thúc đẩy triển khai các giải pháp nhằm chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực KTTV. Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới “Công nghệ 4.0”: IOT (Internet vạn vật), trí tuệ nhân tạo, các công nghệ khai thác dữ liệu lớn (BigData),... trong lĩnh vực KTTV, giám sát BĐKH.

Ngành tập trung thực hiện Đề án “Hiện đại hóa Ngành KTTV đến năm 2025 và thời kỳ 2026-2030”. Trong đó, giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2025: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và cơ cấu tổ chức bộ máy: Rà soát sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KTTV; xây dựng, điều chỉnh hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến hoạt động KTTV. Xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cho hệ thống mạng lưới trạm KTTV chuyên dùng; quy định về tích hợp, đồng bộ dữ liệu KTTV, khai thác, chia sẻ, sử dụng thông tin dữ liệu KTTV, giám sát BĐKH trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển KT-XH ở các cấp, các ngành. Củng cố tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về KTTV; xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển Ngành KTTV,… Giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030: Về cơ chế, chính sách về KTTV, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo công tác QLNN, tăng cường phân cấp, xã hội hóa trong lĩnh vực KTTV, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo KTTV phục vụ phát triển KT-XH, phòng, chống thiên tai, QP-AN.

HOÀNG NGUYÊN
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 21 (Kỳ 1 tháng 11) năm 2024