TS. Trần Hữu Nghị: Phục hồi rừng bản địa cần một cơ chế đất đai linh hoạt hơn

TS. Trần Hữu Nghị: Phục hồi rừng bản địa cần một cơ chế đất đai linh hoạt hơn

Thứ sáu, 22/5/2026, 06:32 (GMT+7)
logo Phục hồi rừng bản địa đang trở thành một trong những hướng tiếp cận được quan tâm trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và áp lực phát triển kinh tế ngày càng lớn. Tuy nhiên, theo TS. Trần Hữu Nghị - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Nhiệt đới (Tropenbos Việt Nam), thách thức hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật lâm sinh, mà còn ở cách quản trị đất rừng, cơ chế đầu tư dài hạn và vai trò thực chất của cộng đồng địa phương trong phục hồi hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới.
img_3928-130736_149-144226_1779158614.webp
TS. Trần Hữu Nghị - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Nhiệt đới (Tropenbos Việt Nam)

Từ các mô hình phục hồi rừng bản địa tại Huế, đặc biệt ở Khe Liềm, Hồng Tiến và A Lưới 1, nhiều vấn đề lớn đang được đặt ra: Làm thế nào để có “rừng thật”, thay vì chỉ tăng độ che phủ? Vì sao phục hồi rừng không thể áp dụng một công thức chung? Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Hữu Nghị xung quanh nội dung này.

PV: Thưa ông, từ thực tiễn các mô hình tại Huế, ông nhìn nhận thế nào về sự khác biệt giữa “trồng rừng” và “phục hồi rừng”?

TS. Trần Hữu Nghị:

Đây là khác biệt rất quan trọng, nhưng lâu nay đôi khi chúng ta vẫn chưa phân biệt thật rõ.

“Trồng rừng” có thể hiểu theo nghĩa hẹp là đưa cây lên đất trống để tạo độ che phủ. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, cách tiếp cận đó đã góp phần rất lớn nâng tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở mục tiêu phủ xanh, chúng ta có thể tạo ra màu xanh nhưng chưa chắc tạo ra hệ sinh thái rừng bền vững.

Còn “phục hồi rừng” là câu chuyện rộng hơn rất nhiều. Đó là phục hồi cấu trúc, chức năng sinh thái, đa dạng sinh học và khả năng tự vận hành của hệ sinh thái rừng.

Tại các mô hình ở Huế, chúng tôi không đi theo hướng trồng đơn loài hay chỉ quan tâm mật độ cây. Các mô hình được thiết kế theo tinh thần mô phỏng rừng tự nhiên tại chỗ, sử dụng tổ hợp nhiều loài cây bản địa, phù hợp từng sinh cảnh khác nhau.

Đó là cách tiếp cận “rainforestation” - phục hồi rừng mưa nhiệt đới theo tinh thần bản địa hóa, thay vì áp dụng một công thức duy nhất cho mọi lâm phần.

PV: Nhưng thực tế hiện nay, nhiều nơi độ che phủ rừng tăng lên, trong khi chất lượng rừng tự nhiên vẫn chưa phục hồi tương xứng. Ông nhìn nhận vấn đề này thế nào?

TS. Trần Hữu Nghị:

Đây không chỉ là câu chuyện của Việt Nam mà là thách thức ở nhiều quốc gia nhiệt đới.

Một số nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế cho thấy sau chiến tranh và giai đoạn khai thác gỗ mạnh, quá trình “phục hồi độ che phủ” ở nhiều nơi chủ yếu dựa vào cây trồng công nghiệp như keo, cao su hoặc rừng trồng đơn loài. Điều đó giúp tăng diện tích có cây, nhưng chưa đồng nghĩa với phục hồi rừng tự nhiên.

Rừng tự nhiên không chỉ là tập hợp cây gỗ. Đó là một hệ sinh thái phức hợp gồm tầng cây, đất, nước, vi sinh vật, động vật và cả mối quan hệ sinh kế – văn hóa của cộng đồng địa phương.

Nếu chỉ nhìn vào màu xanh trên bản đồ mà không nhìn vào chất lượng hệ sinh thái, chúng ta rất dễ nhầm giữa “có cây” và “có rừng”.

Đó cũng là lý do tại sao hiện nay thế giới ngày càng nhấn mạnh tới phục hồi hệ sinh thái, thay vì chỉ trồng thêm diện tích cây xanh.

PV: Qua thực tiễn triển khai các mô hình phục hồi rừng bản địa, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay?

TS. Trần Hữu Nghị:

Theo tôi, có ba nhóm “điểm nghẽn” lớn.

Thứ nhất là tư duy ngắn hạn trong phục hồi rừng.

Rừng bản địa không thể phục hồi trong vài năm. Đây là quá trình dài hạn, cần chăm sóc, theo dõi và điều chỉnh liên tục. Trong khi đó, nhiều cơ chế đầu tư hiện nay vẫn thiên về chu kỳ ngắn, định mức thấp và áp dụng tương tự như trồng rừng sản xuất thông thường.

Thứ hai là bài toán đất đai.

Nhiều diện tích phục hồi rừng hiện nay nằm trên đất phân mảnh, đất sau khai thác, đất xen kẽ nhiều chủ thể quản lý hoặc đất có lịch sử sử dụng phức tạp. Điều này khiến việc tổ chức phục hồi rừng theo quy mô hệ sinh thái gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba là vai trò cộng đồng.

Nếu cộng đồng địa phương chưa thực sự được trao quyền, được hưởng lợi và tham gia từ đầu, thì rất khó phục hồi rừng bền vững.

Ở A Lưới 1, điều khiến chúng tôi ấn tượng nhất không phải chỉ là hơn 45.000 cây được trồng, mà là việc cộng đồng tham gia từ khâu bàn bạc, tổ chức lao động, giám sát đến bảo vệ rừng.  Đó là sự chuyển dịch rất quan trọng: từ “đối tượng thụ hưởng” sang “chủ thể phục hồi rừng”.

q520260509111520_1779158817.jpg
Tham gia khảo sát thực địa mô hình phục hồi rừng tại Khe Liềm, thuộc phường Phong Điền (TP. Huế)

PV: Ông từng cho rằng phục hồi rừng bản địa cần một cơ chế đất đai linh hoạt hơn. “Linh hoạt” ở đây nên được hiểu như thế nào?

TS. Trần Hữu Nghị:

Theo tôi, “linh hoạt” trước hết không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là tạo được không gian phù hợp cho đặc thù của phục hồi hệ sinh thái.

Hiện nay, nhiều cơ chế quản lý đất rừng vẫn được thiết kế theo tư duy tương đối cứng: phân loại rõ ràng, quản lý theo lô khoảnh, theo mục tiêu ngắn hạn hoặc theo chức năng đơn nhất. Trong khi phục hồi rừng bản địa lại cần cách tiếp cận mềm hơn, theo sinh cảnh và theo quá trình vận động tự nhiên của hệ sinh thái.

Ví dụ, có nơi cần ưu tiên tái sinh tự nhiên; có nơi cần trồng bổ sung cây bản địa; có nơi phải kết hợp cây mọc nhanh với cây tổ thành chính; có nơi cần cộng đồng cùng quản lý. Không thể áp dụng một công thức giống nhau cho tất cả.

Một vấn đề nữa là phục hồi rừng cần thời gian rất dài, nhưng nhiều cơ chế hiện nay chưa tạo đủ ổn định cho đầu tư dài hạn hoặc cho cộng đồng yên tâm tham gia.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, muốn phục hồi rừng hiệu quả thì phải gắn với quyền tiếp cận đất đai, quyền hưởng lợi và vai trò thực chất của cộng đồng địa phương.

PV: Như vậy, theo ông, cộng đồng địa phương nên được đặt ở vị trí nào trong phục hồi rừng?

TS. Trần Hữu Nghị:

Tôi cho rằng cộng đồng phải là trung tâm. Trong nhiều trường hợp, chính cộng đồng địa phương mới là lực lượng hiểu đất, hiểu rừng và bám hiện trường tốt nhất.

Tại A Lưới, chúng tôi chứng kiến rất nhiều sáng kiến thực tế từ cộng đồng: xử lý thực bì theo băng, không đốt; tổ chức thi đua giữa các nhóm trồng rừng; chọn điểm khó nhất để làm trước rồi mới nhân rộng.

Những điều đó cho thấy tri thức bản địa hoàn toàn có thể kết hợp hiệu quả với kỹ thuật lâm sinh hiện đại.

Thực tế, nhiều nghiên cứu về quản trị rừng phân quyền ở miền Trung cũng chỉ ra rằng, khi cộng đồng được trao vai trò rõ ràng hơn trong quản lý đất và rừng, hiệu quả bảo vệ và phục hồi rừng có thể được cải thiện đáng kể.

PV: Từ các mô hình hiện nay, ông có tin miền Trung có thể trở thành hình mẫu phục hồi rừng mưa nhiệt đới của Việt Nam?

TS. Trần Hữu Nghị:

Tôi nghĩ là có cơ sở để kỳ vọng.

Miền Trung có hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới rất đặc biệt, có tính đa dạng sinh học cao và cũng là khu vực chịu nhiều tổn thương bởi chiến tranh, khai thác quá mức và biến đổi khí hậu. Nhưng chính những khó khăn đó lại tạo ra nhu cầu rất lớn cho phục hồi hệ sinh thái.

Các mô hình hiện nay ở Huế mới chỉ là bước đầu, quy mô còn khiêm tốn. Nhưng điều đáng quý là chúng tôi đã có những “phòng thí nghiệm ngoài thực địa” để học thật, đo đếm thật và rút ra bài học thật.

Nếu tiếp tục được đầu tư đúng hướng, có cơ chế đất đai phù hợp hơn, có sự tham gia thực chất của cộng đồng và có theo dõi khoa học dài hạn, tôi tin miền Trung hoàn toàn có thể trở thành một hình mẫu phục hồi rừng mưa nhiệt đới của Việt Nam trong tương lai.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

 

Hồng Minh (thực hiện)