

TS. Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp Môi trường (bên trái) và ông Hoàng Xuân Hòa, Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu chủ trì Hội thảo “Phát huy giá trị vùng chè Shan tuyết cổ trong phát triển du lịch nông nghiệp tuần hoàn xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang”.
![]()
Theo bà Vương Ngọc Hà, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, góp phần cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Tuyên Quang. "Việc phát triển chè Shan Tuyết cổ gắn với du lịch tuần hoàn tại Hồ Thầu là một minh chứng cho việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng khu vực dịch vụ 10,5% năm 2026 của tỉnh. Tôi đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và các ngành chức năng phải vào cuộc quyết liệt, đồng hành cùng Nhân dân và doanh nghiệp. Tôi tin tưởng rằng, với sự hỗ trợ của các chuyên gia, các nhà khoa học hiện diện tại đây, cùng sự quyết tâm của hệ thống chính trị và sự đồng lòng của bà con nhân dân cùng với những lợi thế về nét văn hóa, khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và đặc biệt là vùng chè cổ Hồ Thầu sẽ sớm trở thành một viên ngọc quý trong hành trình khám phá du lịch Tuyên Quang, góp phần xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh, thành miền quê đáng sống" - bà Vương Ngọc Hà nhấn mạnh.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường khẳng định: Trà Shan Tuyết cổ là một di sản quý giá mà thiên nhiên và lịch sử đã ban tặng cho các địa phương miền núi phía Bắc, trong đó có Hồ Thầu, Tuyên Quang. Những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn chứa đựng giá trị sinh thái, văn hóa và tri thức bản địa đặc sắc. Đây chính là nền tảng để chúng ta phát triển những mô hình kinh tế mới theo hướng xanh, bền vững. Mỗi búp trà, mỗi tán cây đều mang trong mình câu chuyện về sự thích ứng bền bỉ với biến đổi khí hậu, về lối sống hài hòa giữa con người và môi trường.

Đối với Hồ Thầu đang thừa hưởng một “Kho báu di sản” của quốc gia với 1.555 ha chè Shan Tuyết cổ thụ và các dòng trà rừng cực kỳ quý hiếm, điều đó có nghĩa là bà con đồng bào Dao, Mông – những người đang gìn giữ “rừng vàng” trà cổ – đang trở thành chủ thể của chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến đến cung ứng dịch vụ du lịch. Phát triển phải bắt đầu từ sinh kế, và sinh kế phải gắn với sự thịnh vượng bền vững, trong đó góp phần vào xuất khẩu trà của Việt Nam năm 2025 đạt 235 triệu USD.
Trong bối cảnh hiện nay, khi xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, việc kết hợp giữa sản xuất trà Shan Tuyết với du lịch nông nghiệp là một hướng đi đúng đắn, có tiềm năng lớn. Du khách không chỉ đến để thưởng trà, mà còn để trải nghiệm quy trình sản xuất, khám phá văn hóa bản địa, hòa mình vào thiên nhiên và đời sống của người dân vùng cao. Với diện tích tự nhiên hơn 13.680 ha, sở hữu đỉnh Chiêu Lầu Thi và 8.303 ha rừng đặc dụng, Hồ Thầu chuyển hướng từ khai thác tài nguyên sang khai thác giá trị văn hóa.

![]()
Để hiện thực hóa tiềm năng này, trong chương trình Hội thảo, TS. Đào Xuân Hưng, Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các đại biểu tham dự tập trung trao đổi, thảo luận một số nội dung cốt lõi:
Thứ nhất, cần bảo tồn và phát triển bền vững vùng chè Shan Tuyết cổ. Việc gìn giữ quần thể trà cổ phải được đặt lên hàng đầu, thông qua quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững, mọi hoạt động khai thác phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, giữ gìn nguồn gen trà quý.
Thứ hai, cần xây dựng chuỗi giá trị trà gắn với du lịch, văn hóa. Từ sản xuất, chế biến, xây dựng thương hiệu đến tổ chức các sản phẩm du lịch trải nghiệm như: tham quan đồi chè cổ, hái chè, sao chè, thưởng trà, lưu trú cộng đồng… tất cả cần được thiết kế chuyên nghiệp, có câu chuyện và bản sắc riêng. Tất cả phải được thiết kế theo hướng chuyên nghiệp, có chiều sâu và giàu tính trải nghiệm.
Thứ ba, Từ ứng dụng khoa học, công nghệ trong chế biến sâu, khai thác dược tính của trà Shan Tuyết; đến xây dựng các mô hình sản xuất “không chất thải”; từ việc truy xuất nguồn gốc bằng mã định danh cho từng cây trà cổ, đến thiết kế các cơ sở chế biến đạt chuẩn để trở thành điểm tham quan – tất cả đều cần được triển khai một cách bài bản, hiện đại và đồng bộ. Công nghệ không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm, mà còn là “bảo chứng niềm tin” cho thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông, trong thời đại số, việc quảng bá hình ảnh vùng chè Shan Tuyết Hồ Thầu, mỗi sản phẩm trà, mỗi điểm đến Hồ Thầu cần trở thành một “câu chuyện có thông điệp” cần được thực hiện mạnh mẽ trên các nền tảng truyền thông hiện đại, góp phần nâng cao nhận diện thương hiệu và thu hút du khách.
Thứ năm, tăng cường sự liên kết giữa “bốn nhà”: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – người dân. Sẽ tạo nên một nền tảng phát triển bền vững. Trong đó, người dân giữ vai trò trung tâm, vừa là chủ thể bảo tồn, vừa là người thụ hưởng.
![]()


![]()
Phát biểu tại Hội thảo, ông Hoàng Xuân Hòa - Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu khẳng định: Hồ Thầu hôm nay đang vận hành trong một tâm thế mới – tâm thế của một đơn vị hành chính sau sáp nhập, thực hiện mô hình Chính quyền địa phương 2 cấp theo chủ trương tinh gọn, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả của Trung ương. Với diện tích tự nhiên hơn 13.683,4 ha, sở hữu đỉnh Chiêu Lầu Thi hùng vĩ có độ cao 2.402m so với mực nước biển (đây là đỉnh núi cao thứ 2 của dải Tây Côn Lĩnh) và 8.303 ha rừng đặc dụng, hơn ai hết chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng: Hồ Thầu không chỉ quản lý một địa bàn hành chính, mà đang quản lý một “Kho báu di sản” của quốc gia với khoảng 1.600 ha chè Shan Tuyết cổ thụ và các dòng trà rừng cực kỳ quý hiếm.
Tại Đại hội Đảng bộ xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã xác định phương châm hành động: “Đoàn kết – Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Trong đó, đã xác định đột phá về kinh tế di sản gắn với chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm để đưa Hồ Thầu tiến cùng nhịp bước của đất nước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, chính quyền xã Hồ Thầu soi chiếu vào 3 trụ cột chủ trương cốt lõi, đó là:
Một là, cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hồ Thầu quyết tâm xây dựng hình mẫu “Nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Chúng tôi không bằng lòng với việc chỉ hái lượm và bán chè thô. Người nông dân Hồ Thầu phải vươn mình trở thành những chủ thể kinh tế, biết dùng tri thức để làm ra sản phẩm trà thượng hạng và biết dùng văn hóa bản địa để làm du lịch chuyên nghiệp.
Hai là, bám sát định hướng của Tỉnh ủy Tuyên Quang về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Với địa thế núi cao và rừng trà cổ, chúng tôi định vị Hồ Thầu sẽ là một “mắt xích” quan trọng trong chuỗi du lịch sinh thái phía Tây của tỉnh. Chúng tôi không phát triển du lịch bằng mọi giá mà tập trung vào Du lịch nông nghiệp tuần hoàn – nơi mỗi gốc trà được bảo tồn là một giá trị thặng dư, và mỗi du khách đến đây là một sự đóng góp cho việc tái tạo môi trường.
Ba là, vận dụng Nghị quyết 57 và 80 của Bộ Chính trị về Khoa học công nghệ và Văn hóa. Chúng tôi xác định văn hóa trà là nguồn lực nội sinh, còn khoa học công nghệ là công cụ để giải phóng tiềm năng đó. Chính quyền xã cam kết sẽ là “cầu nối” tận tâm để đưa các công nghệ chế biến sâu, công nghệ số vào bản làng, vào các hộ dân cư để tạo ra những sản phẩm trà OCOP xứng tầm quốc tế.

"Trong giai đoạn hiện nay, ngành Nông nghiệp đang bước vào giai đoạn chuyển đổi tư duy mạnh mẽ, từ “sản xuất nông nghiệp” đơn thuần sang tư duy “kinh tế nông nghiệp”, tích hợp đa giá trị gồm kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Việc phát triển nông nghiệp xanh và du lịch sinh thái là định hướng chiến lược của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Bám sát chủ trương đó, Hội thảo được tổ chức mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xã Hồ Thầu. Đây là dịp để chính quyền, người dân địa phương được lắng nghe những ý kiến đóng góp quý báu từ các chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu; để tìm ra lời giải cho bài toán quy hoạch hạ tầng, bảo tồn nguồn gen quý hiếm song hành cùng việc xây dựng chuỗi giá trị chế biến sâu. Hội thảo này không chỉ là một sự kiện truyền thông, mà là lời khẳng định về sự bứt phá của Hồ Thầu trong bối cảnh chính quyền 2 cấp. Chúng tôi sẵn sàng mở cửa, sẵn sàng lắng nghe và sẵn sàng hành động để biến vùng trà di sản này thành biểu tượng của sự thịnh vượng và hạnh phúc”, ông Hoàng Xuân Hòa nhấn mạnh.

![]()
Phát biểu tham luận tại Hội thảo, Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang thông tin: Tuyên Quang hiện là một trong những địa phương có diện tích chè lớn của cả nước với trên 27.059 ha, trong đó, chè Shan Tuyết - loại cây được mệnh danh là “vàng xanh” được phân bố trên địa bàn 29 xã, phường của tỉnh, tập trung tại các xã như: Lâm Bình, Thượng Sơn, Hồng Thái, Côn Lôn, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Hồ Thầu, Thông Nguyên,… với nhiều cây chè cổ thụ có giá trị đặc biệt, trong đó có 1.629 cây chè Shan Tuyết cổ thụ được công nhận là cây di sản Việt Nam. Chè Shan Tuyết là cây trồng chủ lực của bà con đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh đang triển khai nhiều giải pháp xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị chè Shan Tuyết và coi đây là cây trồng trọng tâm trong công tác giảm nghèo cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã và đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng nội lực và gia tăng giá trị. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 357 sản phẩm đạt hạng từ 3 sao trở lên trong đó có 338 sản phẩm 3 sao, 17 sản phẩm 4 sao, 02 sản phẩm 5 sao. Theo ông Đỗ Tấn Sơn, quá trình thực hiện nâng hạng sao OCOP đối với sản phẩm trên địa bàn tỉnh trong đó có sản phẩm chè Shan Tuyết vẫn còn gặp nhiều khó khăn để sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe theo Bộ tiêu chí đánh giá phân hạng. Sản phẩm không chỉ dừng ở chất lượng cảm quan mà phải đạt các yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn quản lý quốc tế như ISO, HACCP, BRC, FDA, thị trường tiêu thụ…
Để có thể nâng hạng sao OCOP đối với sản phẩm chè Shan Tuyết của tỉnh trong giai đoạn 2026-20230, ông Đõ Tấn Sơn đưa ra một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ tiêu chuẩn hóa nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP:
Trong giai đoạn 2021- 2025, tỉnh đã có một số cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển các sản phẩm được triển khai hiệu quả như: Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND, Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND
Trong giai đoạn tới Tỉnh sẽ tiếp tục cho rà soát, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, trọng tâm, trọng điểm; xây dựng chính sách hỗ trợ trực tiếp gắn với lộ trình nâng hạng sao, ưu tiên sản phẩm có tiềm năng đạt 4-5 sao. Trong đó tập trung vào hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản xuất, chế biến; cải tiến bao bì; phát triển liên kết; ứng dụng chuyển đổi số… đạt các tiêu chí bắt buộc Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP đối với thứ hạng sao. Đồng thời, tạo điều kiện để các hợp tác xã, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi và ưu tiên bố trí nguồn lực từ Chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ đầu tư máy móc, công nghệ chế biến theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng đầu ra của sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hai là, phát triển thương hiệu và sở hữu trí tuệ: Tăng cường hỗ trợ các chủ thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu đồng bộ, chuyên nghiệp, đảm bảo tính khác biệt và dễ nhận diện trên thị trường phòng, chống hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại. Khuyến khích, hỗ trợ các chủ thể đầu tư thiết kế bao bì theo hướng kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại phù hợp thị hiếu người tiêu dùng; đồng thời chú trọng xây dựng, truyền thông câu chuyện sản phẩm gắn với giá trị văn hóa, lịch sử và đặc trưng vùng miền nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, có điểm nhấn và nhất quán với hệ thống diện thương hiệu.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao năng lực quản lý:
Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dựng khoa học công nghệ phù hợp; đồng thời các chủ thể OCOP phải chủ động nguồn lực đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào từ sản xuất, thu hoạch đến chế biến, bảo quản theo các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản giúp giữ chất lượng sản phẩm sau thu hoạch và gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Trong sản xuất, cần áp dụng quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; cơ giới hóa các khâu sản xuất nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Trong chế biến, ưu tiên đầu tư dây chuyền chế biến sâu, công nghệ sấy, đóng gói hiện đại sản xuất, chế biến theo quy trình tiêu chuẩn quản lý quốc tế ISO, HACCP… nhằm kéo dài thời gian bảo quản, đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Đồng thời, tổ chức tập huấn và tư vấn cho cán bộ quả lý cấp xã và các chủ thể OCOP về tiêu chí đánh giá, xây dựng hồ sơ, phát triển thương hiệu và kỹ năng marketing… để các chủ thể chủ động trong quá trình tiêu chuẩn hóa sản phẩm đạt tiêu chí bắt buộc thứ hạng sao để nâng hạng.
Bốn là, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với thị trường:
Tập trung phát triển sản xuất theo hướng hình thành chuỗi liên kết chặt chẽ, xuyên suốt từ vùng nguyên liệu - Thu mua - Sơ chế, chế biến - Phân phối, tiêu thụ sản phẩm; trong đó hợp tác xã và doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân tổ chức, điều phối và dẫn dắt thị trường. Cụ thể, cần quy hoạch, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với từng sản phẩm chủ lực, đảm bảo ổn định về sản lượng, chất lượng và tuân thủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn; tổ chức ký kết hợp đồng liên kết giữa người dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ xây dựng các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị có sự tham gia của doanh nghiệp, Hợp tác xã bao tiêu sản phẩm, từng bước nhân rộng các mô hình hiệu quả; tăng cường vai trò giám sát của chính quyền và cơ quan chuyên môn trong việc thực hiện hợp đồng liên kết, hạn chế tình trạng phá vỡ liên kết khi thị trường biến động.
Đồng thời, tăng cường kết nối với các hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, sàn thương mại điện tử; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, tạo điều kiện cho sản phẩm tham gia các hội chợ, triển lãm, kết nối cung-cầu mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng. Phải gắn sản xuất với nhu cầu thị trường, lấy thị trường làm định hướng để tổ chức sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững sản phẩm OCOP. Xây dựng, phát triển các mô hình sản phẩm OCOP gắn với du lịch trải nghiệm (duy trì, bảo tồn), tạo sự khác biệt khi du khách không chỉ sử dụng sản phẩm mà còn được trực tiếp tham quan vùng nguyên liệu, trải nghiệm quy trình sản xuất, thưởng thức đặc sản tại chỗ. Đây là lợi thế lớn giúp nâng cao giá trị sản phẩm OCOP, mở rộng thị trường tiêu thụ và quảng bá hình ảnh địa phương.

![]()
Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, bà Vương Ngọc Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang khẳng định; Tuyên Quang - vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi hội tụ bản sắc văn hóa đặc sắc của 22 dân tộc anh em, cùng hệ sinh thái tự nhiên phong phú, đa dạng, đang đứng trước những thời cơ phát triển mới trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030.
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, tỉnh Tuyên Quang xác định Nông nghiệp và Du lịch là hai trụ cột kinh tế then chốt, mang tính đột phá quan trọng, hai ngành không phát triển tách rời mà được gắn kết chặt chẽ thông qua các mô hình tích hợp để đưa kinh tế Tuyên Quang phát triển, hướng tới mục tiêu trở thành tỉnh phát triển khá, toàn diện và bền vững trong khu vực miền núi phía Bắc.
Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Trung ương và Kết luận số 219-KL/TW của Bộ Chính trị, Tuyên Quang đặt mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và sinh thái: Phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt trên 5,56%/năm. Tầm nhìn đến năm 2045, Tuyên Quang sẽ hình thành các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, gắn kết chặt chẽ với thị trường quốc tế; Tập trung sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao đối với các sản phẩm đặc trưng như: Cam sành, Chè Shan tuyết, Bưởi Soi Hà và Gỗ rừng trồng. Đặc biệt chú trọng nông nghiệp carbon thấp và truy xuất nguồn gốc mã số vùng trồng.
Bà Vương Ngọc Hà cho rằng, nếu nông nghiệp là nền tảng, thì du lịch chính là động lực đột phá để phát triển khu vực dịch vụ.
Năm 2025, Tuyên Quang đón gần 4 triệu lượt khách. Với định hướng chiến lược năm 2026 và tầm nhìn 2030, tỉnh Tuyên Quang sẽ tập trung xây dựng du lịch theo hướng chuyên nghiệp, lấy chất lượng và trải nghiệm của khách hàng làm trọng tâm. Phát huy tối đa lợi thế của các loại hình du lịch đặc sắc, như: Du lịch lịch sử - cách mạng (Tân Trào); Du lịch sinh thái hồ - rừng (Na Hang - Lâm Bình); Du lịch văn hóa cộng đồng gắn với 22 dân tộc anh em và Du lịch nghỉ dưỡng khoáng nóng...
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là một trong nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Trên cơ sở đó, tỉnh xác định phấn đấu năm 2026 thu hút trên 4,1 triệu lượt khách, tăng nhanh tổng thu từ du lịch, qua đó góp phần quan trọng vào tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 10,5%; từng bước phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng lớn vào GRDP của tỉnh, tạo nhiều việc làm và sinh kế bền vững cho Nhân dân.
Điểm mới trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh là sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và du lịch thông qua mô hình Du lịch nông thôn và Nông nghiệp trải nghiệm. Việc phát triển các làng nghề, các sản phẩm OCOP không chỉ để bán mà còn để phục vụ khách tham quan, trải nghiệm. Du lịch sẽ giúp tiêu thụ nông sản tại chỗ, còn nông nghiệp sinh thái sẽ tạo ra không gian xanh, hấp dẫn để giữ chân du khách. Đây chính là con đường ngắn nhất để nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn, phấn đấu tăng gấp 1,5 lần so với năm 2025.
Theo bà Vương Ngọc Hà, Tuyên Quang hiện là một trong những địa phương có diện tích chè lớn của cả nước với trên 27.000 ha (diện tích vùng chè đồi là 8.321,8 ha; diện tích chè Shan Tuyết là 19.188), tổng sản lượng đạt trên 160.237 tấn. Trong đó, chè Shan Tuyết - loại cây được mệnh danh là “vàng xanh” của tỉnh, được phân bố tại 29 xã của tỉnh, tập trung tại các vùng núi cao như: Lâm Bình, Thượng Sơn, Hồng Thái, Côn Lôn, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Hồ Thầu, Thông Nguyên, Cao Bồ, Lao Chải,... với nhiều cây chè cổ thụ có giá trị đặc biệt, trong đó có 1.629 cây chè Shan Tuyết cổ thụ được công nhận là cây di sản Việt Nam.... riêng xã Hồ Thầu diện tích cây Chè Shan Tuyết là 1.600 ha, sản lượng 3.920 tấn/năm.
Sản phẩm chè Shan Tuyết của tỉnh đã từng bước được khẳng định trên thị trường, đã được cấp chỉ dẫn địa lý và được Hội Chè Thế giới và Hội Chè Việt Nam công nhận là vùng chè hữu cơ lớn nhất cả nước. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 730 cơ sở chế biến chè với tổng công suất chế biến khoảng 280 tấn chè búp tươi/ngày; Có 40 sản phẩm chè của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được phát triển thành sản phẩm OCOP (trong đó 2 sản phẩm chè xanh và hồng trà nhãn hiệu Bà cụ của Hợp tác xã Chế biến chè Phìn Hồ, xã Thông Nguyên được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận sản phẩm OCOP 5 sao quốc gia).
Hàng năm, giá trị sản xuất ngành chè chiếm khoảng 10% giá trị ngành trồng trọt. Để thúc đẩy cây Chè của tỉnh phát triển, trong giai đoạn 2020-2025 tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch, phương án, đề án. Cùng với đó tỉnh quan tâm, chỉ đạo tăng cường thực hiện công tác quản lý và phát triển chè đã đạt được một số kết quả khả quan và ngành chè từng bước phát triển ổn định, bền vững.

Các đại biểu là lãnh đạo sở, ban, ngành trung ương và tỉnh Tuyên Quang, các nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp phát biểu ý kiến tại Hội thảo.
![]()
Để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và du lịch của tỉnh phát triển tương xứng với tiềm năng, chuyển dịch mạnh mẽ từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” và từ “du lịch đại trà” sang “du lịch chất lượng cao, đậm đà bản sắc”, trong thời gian tới, bà Vương Ngọc Hà đề nghị các ngành, các địa phương cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phát triển nông nghiệp và du lịch. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thống nhất trong nhận thức và hành động để nông nghiệp và du lịch là ngành kinh tế quan trọng, có tính liên ngành, liên vùng; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và Nhân dân.
Hai là, thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đảm bảo tính đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Rà soát, ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại và du lịch cộng đồng, trải nghiệm.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong quản lý và phát triển nông nghiệp và du lịch; ưu tiên nguồn lực hoàn thiện mạng lưới giao thông kết nối các vùng sâu, vùng xa để phục vụ du lịch. Đặc biệt là hạ tầng viễn thông tại các vùng nguyên liệu với các khu, điểm du lịch để phục vụ chuyển đổi số. Xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp du lịch thông minh. Ứng dụng công nghệ trong quảng bá, xúc tiến thương mại - du lịch, thuyết minh, nâng cao trải nghiệm; xây dựng và giữ vững thương hiệu du lịch nông nghiệp gắn với các giá trị đặc trưng.
Bốn là, nâng cao đào tạo nghề nông nghiệp hiện đại và kỹ năng phục vụ du lịch cho người dân. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Nâng cao kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kỹ năng số...
Năm là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp và du lịch. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; hỗ trợ doanh nghiệp và cộng đồng phát triển du lịch. Gắn phát triển nông nghiệp và du lịch với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
"Với truyền thống quê hương cách mạng, với sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, Tuyên Quang sẽ hiện thực hóa thành công chiến lược phát triển nông nghiệp và du lịch trong thời gian tới, hướng tới giá trị cốt lõi, xây dựng một Tuyên Quang: Xanh về môi trường - Giàu về kinh tế - Đậm đà về bản sắc văn hóa" - bà Vương Ngọc Hà khẳng định

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo.
Ảnh trong bài: Xuân Vinh - Văn Thanh - Liên Huyền