Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất và điều hành quyết liệt của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những năm qua ngành Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từ kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm, đến thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng hiện đại và bền vững. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần ổn định nguồn cung thực phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn mà còn đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, củng cố nền tảng phát triển nông nghiệp sinh thái và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ngày 01/03/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN &MT) được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai bộ: Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ NN & MT mới được sắp xếp, kiện toàn, tổ chức lại thành 30 đơn vị thuộc Bộ đã đi vào hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của tập thể lãnh đạo Bộ, đứng đầu là Bộ trưởng Trần Đức Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ NN & MT.
Bộ NN & MT là Cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đa ngành, đa lĩnh vực, bao gồm: Nông nghiệp, Môi trường, Lâm nghiệp, Diêm nghiệp, Chăn nuôi Thú y, Thủy sản, Thủy lợi, Phòng chống thiên tai, Phát triển nông thôn; Quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
Ngay sau khi hợp nhất, Bộ đã đi vào hoạt động theo hướng tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Bộ đã vượt qua khó khăn, thách thức, chủ động nắm bắt thuận lợi, thời cơ từng bước củng cố vững chắc nền tảng tinh thần, kiên quyết phấn đấu hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình suốt 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; kiến tạo tương lai bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Vai trò, chức năng nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ NN & MT trong phát triển Chăn nuôi và Thú y
Trong kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ngành NN & MT đã và đang đảm nhận một vai trò lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, toàn diện: Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh, nâng cao đời sống người dân nông thôn - một trụ cột quan trọng của nền kinh tế đất nước; đồng thời giữ trọng trách quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; bảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh.
Với vị trí, vai trò, tầm quan trọng chiến lược đó, Bộ NN & MT thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 35/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN & MT, có hiệu lực từ ngày 1/3/2025. Theo đó, Bộ NN & MT với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, đã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Chăn nuôi và Thú y.
Về quan điểm chỉ đạo phát triển ngành Chăn nuôi và Thú y
- Phát huy tiềm năng, lợi thế của các vùng sinh thái để phát triển chăn nuôi toàn diện, hiệu quả, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu gắn với phát triển các chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng, bảo đảm an toàn sinh học, dịch bệnh, môi trường và an toàn thực phẩm, đối xử nhân đạo với vật nuôi, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và tăng cường xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
- Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời đẩy mạnh chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi truyền thống theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, an toàn.
- Tăng cường nghiên cứu khoa học, thích nghi và ứng dụng có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, chú trọng ứng dụng công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm nâng cao sức cạnh tranh ngành chăn nuôi.
- Đẩy mạnh việc xã hội hóa các hoạt động trong chăn nuôi, phát triển chăn nuôi phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển.
Trong đó, Bộ NN & MT chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi; thu thập, bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gene vật nuôi; xây dựng và trình Chính phủ ban hành danh mục giống vật nuôi cần bảo tồn và cấm xuất khẩu; quy định tiêu chí và công nhận địa bàn, vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh; chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y.
Chỉ đạo, hướng dẫn việc sử dụng ngân sách cho các chương trình, kế hoạch quốc gia phòng, chống, khắc phục hậu quả dịch bệnh động vật;...
Về nuôi trồng thủy sản, Bộ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định về quản lý các khu bảo tồn biển, quản lý các loài thủy sản nguy cấp, quý hiếm, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước theo quy định của pháp luật.
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; quy định quản lý về an toàn tàu cá, thông tin phòng tránh thiên tai cho ngư dân và tàu cá trên biển; xác định, giao hạn ngạch giấy phép khai thác thủy sản, sản lượng cho phép khai thác theo loài tại vùng khơi cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện nuôi trồng thủy sản; quan trắc cảnh báo môi trường trong nuôi trồng thủy sản; quy trình, kỹ thuật, mùa vụ nuôi trồng thủy sản; tổ chức thực hiện lưu giữ giống gốc, loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế;...
Những thành tựu nổi bật của ngành Chăn nuôi và Thú y
Về Chăn nuôi:
Những năm qua, ngành Chăn nuôi nước ta đã liên tục phát triển với tốc độ cao, đáp ứng căn bản nhu cầu thực phẩm đa dạng gồm thịt, trứng, sữa… cho 100 triệu dân trong nước. Sau gần 20 năm triển khai chiến lược phát triển chăn nuôi, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chăn nuôi Việt Nam luôn phát triển với tốc độ cao, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp có xu hướng tăng nhanh, góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và gia tăng xuất khẩu.
Giai đoạn 2008 - 2019, sản lượng thịt các loại tăng 1,5 lần (từ 3,6 triệu tấn lên 5,4 triệu tấn), trứng tăng 2,3 lần (từ gần 5,0 tỷ quả lên 11,6 tỷ quả), sữa tươi tăng 3,6 lần (từ 262,2 nghìn tấn lên 936,7 nghìn tấn), thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng gần 2,4 lần (từ 8,5 triệu tấn lên 20,2 triệu tấn). Một số sản phẩm chăn nuôi đã được xuất khẩu như: thịt lợn choai, lợn sữa, thịt gia cầm, trứng muối, mật ong, tổ yến, tơ tằm, sữa và các sản phẩm từ sữa… khẳng định giá trị thương hiệu của sản phẩm chăn nuôi trong nước với khu vực và trên thế giới.
Nhiều lĩnh vực chăn nuôi đã có vị thế cao trong khu vực và trên thế giới như: chăn nuôi lợn đứng vị trí thứ 5 về đầu con, thứ 6 về sản lượng; đàn thủy cầm đứng thứ 2 thế giới; năng suất bò sữa và sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp đứng số 1 trong khu vực Đông Nam Á…
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi đã tạo sinh kế cho 6,0 - 6,5 triệu nông hộ trong 8,6 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, góp phần thay đổi diện mạo khu vực nông thôn. Ngày càng nhiều doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh tế đầu tư lớn trong phát triển chăn nuôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi theo mô hình chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn.
Bên cạnh những thành tựu, ngành chăn nuôi vẫn còn bộc lộ không ít những tồn tại, bất cập, chưa đóng góp tương xứng vào ngành nông nghiệp và trở thành ngành sản xuất chính. Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm đa số; công tác kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và môi trường còn nhiều bất cập, nhất là khu vực chăn nuôi nông hộ và giết mổ nhỏ lẻ; tổ chức sản xuất chăn nuôi theo chuỗi liên kết còn chiếm tỷ trọng thấp; hoạt động nghiên cứu khoa học chăn nuôi chưa có nhiều đột phá; công tác dự báo, dự tính về thị trường sản phẩm chăn nuôi còn nhiều hạn chế… Ngoài ra, việc phát triển chăn nuôi còn mất cân đối về cơ cấu các sản phẩm, nhất là tỉ lệ thịt lợn vẫn còn cao, trong khi các loại thịt khác như thịt bò, gia cầm vẫn còn thấp.
Theo dự báo nhu cầu thực phẩm đối với các sản phẩm chăn nuôi trong nước và các nước trong khu vực sẽ tiếp tục tăng cao. Vì vậy, ngành Chăn nuôi cần thay đổi nhanh để thích ứng với tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, diễn biến ngày càng phức tạp của dịch bệnh và thay đổi ngày càng lớn của khoa học công nghệ, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ. Theo đó, ngành chăn nuôi cần khắc phục triệt để những tồn tại để phát triển theo 3 trục về hiệu quả kinh tế, môi trường, an sinh xã hội hướng đến mục tiêu bền vững. Ngành chăn nuôi phải là chăn nuôi hiện đại, đi đầu trong kinh tế tuần hoàn. Chăn nuôi phải hướng tới mục tiêu xuất khẩu, lấy đó làm áp lực để từng ngành hàng xác định mục tiêu phát triển với sự vào cuộc của cả 3 khu vực: Nhà nước, doanh nghiệp, người dân…
Bên cạnh đó, cần có Dự thảo chiến lược phát triển Chăn nuôi giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn 2045 với quan điểm và mục tiêu phát triển: Phát triển chăn nuôi toàn diện, hiệu quả, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuỗi giá trị, kinh tế tuần hoàn, nâng cao giá trị gia tăng, bảo đảm an toàn sinh học, dịch bệnh và an toàn thực phẩm, đối xử nhân đạo với vật nuôi; Tăng cường nghiên cứu khoa học và ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới; Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động trong chăn nuôi. Đến năm 2030, sản xuất chăn nuôi nước ta thuộc nhóm các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Sản phẩm chăn nuôi đáp ứng yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và tăng cường xuất khẩu.
Một số mục tiêu cụ thể: Mức tăng trưởng giá trị sản xuất: giai đoạn 2026 -2030 trung bình từ 4% đến 5%/năm; giai đoạn từ 2030 đến 2035 trung bình từ 3% đến 4%/năm. Sản lượng thịt xẻ các loại: đến năm 2026 đạt từ 5,0 đến 5,5 triệu tấn, đến năm 2030 đạt từ 6,0 đến 6,5 triệu tấn. Trong đó, xuất khẩu từ 15% đến 20% sản lượng thịt lợn, từ 20% đến 25% thịt và trứng gia cầm. Sản lượng trứng, sữa: Đến năm 2030 đạt từ 18 đến 19 tỷ quả trứng và từ 1,7 đến 1,8 triệu tấn sữa; đến năm 2035 đạt khoảng 23 tỷ quả trứng và 2,6 triệu tấn sữa. Tỷ trọng thịt gia súc, gia cầm được chế biến so với tổng sản lượng thịt: từ 25% đến 30% vào năm 2026, từ 40% đến 50% vào năm 2030…
Thành tựu của ngành Thú y
Để ghi nhận những cống hiến, phát huy vai trò và truyền thống của Ngành Thú y, ngày 12/7/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 664/QĐ-TTg về ngày truyền thống Ngành Thú y, theo đó Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 11/7 là "Ngày truyền thống của Ngành Thú y”.
Năm 1949, tại Hội nghị Thú y toàn quốc đã vinh dự được nhận thư của Bác Hồ. Trong thư Bác viết: "Chăn nuôi rất quan trọng cho kinh tế nước nhà. Mong toàn thể cán bộ Thú y xung phong thi đua ái quốc, tìm cách thiết thực phát triển và bảo vệ gia súc. Mong các anh em chú ý mấy điều sau đây: (1). Phải nhận thức cho rõ rệt và phải tích cực thực hiện phương châm đem chuyên môn làm việc cho nhân dân; (2). Phải sửa đổi lề lối làm việc theo những phương pháp mới. Gần dân, hiểu dân, tìm hiểu những kinh nghiệm của dân để phối hợp với sở trường khoa học của mình”.
76 năm là một chặng đường ghi nhận những đóng góp to lớn của ngành thú y vào sự phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường hội nhập quốc tế. Ngành đã đồng hành với người nông dân trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc cũng như trong thời kỳ đổi mới. Các thế hệ cán bộ thú y đã tích cực tham gia phòng, chống dịch bệnh góp phần tạo nguồn thực phẩm sạch, môi trường sinh thái an toàn, bảo vệ an toàn cho sức khoẻ con người.
- Năm 2003, Việt Nam đã thanh toán được bệnh Dịch tả trâu bò, được Tổ chức Thú y thế giới (OIE) công nhận. Cũng từ cuối năm 2003, nước ta đối diện với Đại dịch Cúm gia cầm cùng với toàn thế giới. Từ năm 2003 đến năm 2009, Việt Nam ghi nhận 56 ca tử vong trong số 111 người nhiễm cúm H5N1. Nhưng Việt Nam đã làm rất tốt các phương pháp phòng chống các năm sau đó, không còn ghi nhận các ca bệnh lây sang người từ sau 2009. Cho đến nay, các chủng virus cúm gia cầm vẫn liên tục biến đổi và tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sức khỏe, tính mạng con người. Tuy nhiên, với năng lực chuyên môn và hệ thống phòng, chống dịch ngày càng được nâng cao, Việt Nam cơ bản đã kiểm soát tốt căn bệnh này.
- Năm 2006, bệnh dịch lở mồm long móng xảy ra rất mạnh ở hầu hết các tỉnh thành của Việt Nam, với hàng chục nghìn gia sục bị nhiễm bệnh. Sau đó một năm, đầu năm 2007, Việt Nam tiếp tục phải đối diện với bệnh Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Tai Xanh), thiệt hại hàng tỷ đồng do phải tiêu huỷ lợn bệnh. Trong giai đoạn đầu, ngành Thú y phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi nhận thức và kiến thức của người dân về phòng, chống dịch bệnh còn hạn chế, điều kiện phòng chống dịch còn thiếu thốn và chưa đồng bộ. Tuy nhiên, với tinh thần kiên trì, chủ động học hỏi và không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, ngành đã từng bước khống chế và đưa căn bệnh này vào tầm kiểm soát.
- Năm 2019, khi bệnh Dịch tả lợn châu Phi xuất hiện tại Việt Nam, ngành Thú y đã nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch, góp phần quan trọng trong việc khống chế và kiểm soát dịch bệnh vào cuối năm, tạo điều kiện cho hoạt động tái đàn và phục hồi sản xuất chăn nuôi lợn. Đến năm 2023, Việt Nam đã nghiên cứu và sản xuất thành công vắc-xin Dịch tả lợn châu Phi “Made in Vietnam”, đánh dấu bước đột phá quan trọng về năng lực khoa học – công nghệ của ngành Thú y Việt Nam.
Với sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực chẩn đoán và xét nghiệm bệnh động vật, năng lực khoa học - kỹ thuật của ngành Thú y Việt Nam đã từng bước đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới. Đến nay, hệ thống phòng thí nghiệm thú y được đầu tư đồng bộ với 8 phòng thí nghiệm thuộc Cục Thú y, 1 phòng thí nghiệm trung tâm của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng các phòng thí nghiệm hiện đại của Viện Thú y Quốc gia và Phân viện Thú y miền Trung. Với cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến và đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu, hệ thống này đủ năng lực chẩn đoán hầu hết các bệnh động vật quan trọng, bao gồm cả các bệnh có nguy cơ lây sang người như cúm gia cầm, bệnh dại, nhiệt thán và các bệnh do virus Corona, thông qua các kỹ thuật hiện đại như PCR, Real-time PCR và giải trình tự gene.
Trong bối cảnh hiên nay, Việt Nam đã và đang phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, ngành Thú y có sứ mệnh quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe động vật và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động: Quản lý bệnh truyền lây giữa người và động vật; Phát triển chăn nuôi, giảm đói nghèo; Quản lý dịch bệnh trong buôn bán động vật, sản phẩm động vật, thủy sản trong nước và quốc tế; Sản xuất thuốc, vắc-xin thú y phục vụ phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm và thủy sản; Bảo đảm an toàn thực phẩm đối với động vật, sản phẩm động vật phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao và thống nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành Chăn nuôi và Thú y đã có bước phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Những kết quả đạt được đã tạo nền tảng vững chắc, trở thành trụ cột quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. Phát huy truyền thống và các thành tựu đã đạt được, ngành Chăn nuôi và Thú y tiếp tục vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện, xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hùng cường.