Việt Nam có nhiều nỗ lực trong cảnh báo sớm và khoanh vùng nguy cơ thiên tai

Thứ hai, 27/1/2025, 08:26 (GMT+7)
logo Lũ quét, sạt lở đất là loại hình thiên tai khó dự đoán, luôn xảy ra bất ngờ và gây thiệt hại thảm khốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, nhất là người dân sống ở vùng núi,... Chính vì vậy, để hạn chế thiệt hại do loại hình thiên tai này gây ra cần sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền, địa phương, nhằm nhận biết sớm và có phương án phòng, tránh kịp thời, nhất là sự chủ động của người dân vùng bị ảnh hưởng. Cần thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo để chủ động phòng chống, ứng phó kịp thời.

Việt Nam có nhiều nỗ lực trong cảnh báo sớm và khoanh vùng nguy cơ thiên tai

Gia tăng xảy ra sạt lở đất, lũ quét ngày càng nghiêm trọng 

Hậu quả của lũ quét và sạt lở đất tại các tỉnh Miền núi phía Bắc sau cơn bão số 3 vẫn còn chưa khắc phục hết được. Hiện nay, mưa lớn kéo theo nguy cơ lũ quét và sạt lở đất lại đang tiếp tục đe dọa các tỉnh miền núi phía Bắc như Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ, Trung Bộ và cả vùng Tây Nguyên. Nhiều khu vực ở vùng núi Thanh Hóa và Nghệ An xuất hiện những vết nứt núi hoặc sạt lở khiến người dân phải di dời.

PGS.TS. Đặng Thanh Mai, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục KTTV cho biết, năm 2024, nguy cơ gia tăng xảy ra sạt lở đất, lũ quét ngày càng nghiêm trọng hơn. Nguyên nhân gây ra sạt lở đất, lũ quét thường là do mưa lớn kết hợp với quá trình phong hóa không ổn định của đất đá, độ dốc lớn của sông, suối, địa hình chia cắt và sự tác động của con người như cắt, xẻ, xây dựng các hồ chứa nước, khai thác thảm phủ và làm mất độ kết dính của đất đá.

Trong quá trình mưa lớn, đất đá, thân cây có thể bị cuốn vào chỗ hẹp, tắc nghẽn để tạo ra các đập chứa nhân tạo. Khi có mưa lớn, các đập này bị vỡ, cuốn theo lượng lũ lớn kéo dài kèm theo lượng đất, bùn đá lớn và những trận lũ quét nghẽn dòng. Với điều kiện của Việt Nam khác biệt so với các nước. Đầu tiên là Việt Nam là khu vực khó dự báo trên thế giới do đối lưu phức tạp; trình độ khoa học công nghệ mới đang ở tầm khu vực Đông Nam Á; và tài chính không đủ mạnh.

Tại một số nước trên thế giới như Thuỵ Điển chỉ dự báo sạt lở ở những vùng quan trọng bằng hệ thống tự động. Hệ thống này trị giá khoảng 200-300 triệu đô la Mỹ nhằm thông báo về độ ẩm, nguy cơ sạt – trượt, tốc độ ô tô hợp lý khi đường ướt,…

Còn Nhật Bản có sử dụng hệ thống quan trắc từ máy bay và vệ tinh, giúp thống kê các điểm cảnh báo, kết nối với vệ tinh và gửi về trung tâm. Nhật Bản là một nước phát triển, có trình độ khoa học công nghệ hàng đầu thế giới, có hệ thống quan trắc tự động mật độ rất cao (2 - 5 km2/trạm), có hệ thống vệ tinh và ra đa dày đặc, bao trùm lãnh thổ, có hệ thống mô hình hiện đại dự báo mưa chi tiết với độ phân giải 1 x 1 km, cũng thường xuyên bị thiệt hại do lũ quét, sạt lở. Ví dụ như: Đợt mưa kỷ lục ở miền Tây và miền Trung Nhật Bản đầu tháng 7/2018 đã nhấn chìm phần lớn diện tích khu vực, gây lũ lụt và sạt lở nghiêm trọng khiến 200 người chết và mất tích. Tiếp đó là trận lở đất nghiêm trọng xảy ra ở thành phố Atami, phía Tây Nam thủ đô Tokyo ngày 3/7/2021 sau nhiều ngày mưa lớn. Tuy nhiên việc đầu tư hệ thống quan trắc cảnh báo lũ, bùn, đá (hệ thống độ mưa, camera, độ sóng âm, đo độ ẩm, trạm quan trắc lũ, bùn đá, cảm biến dây, đo mực nước,…) rất tốn kém.

Liên hợp quốc đã đặt mục tiêu là đảm bảo rằng cuối năm 2027, mọi người trên thế giới đều có thể nhận được cảnh báo sớm trước các thiên nhiên thảm khốc. Ở Việt Nam, việc mỗi người được thông báo kịp thời và trực tiếp về nguy cơ thiên tai sẽ giúp tăng tính chủ động trong ứng phó với các thảm họa được dự báo sớm và từ đó sẽ phối hợp tốt hơn với các cơ quan chức năng. Đó chính là một biện pháp hữu hiệu trước những diễn biến ngày càng khó lường của thời tiết.

Nỗ lực cảnh báo sớm và khoanh vùng nguy cơ

Lũ quét và sạt lở đất là hai loại hình thiên tai nguy hiểm, có tính bất ngờ và thường để lại hậu quả nặng nề về người và tài sản. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cảnh báo sớm thiên tai và khoanh vùng nguy cơ cho các địa phương. Tuy nhiên, dự báo thiên tai vẫn là một bài toán khó chinh phục.

Từ năm 2022, Việt Nam đã tiếp nhận Hệ thống hỗ trợ cảnh báo lũ quét Đông Nam Á (SEAFFGS), đây là hệ thống hỗ trợ cảnh báo lũ quét đầu tiên sử dụng dữ liệu dự báo cực ngắn và được tích hợp một lượng lớn nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. Tuy nhiên, hệ thống chưa thể hỗ trợ dự báo được vị trí cụ thể xảy ra lũ quét, sạt lở đất.

Hiện nay, chúng ta đang sử dụng bộ bản đồ với tỉ lệ 1:50.000 để cung cấp thông tin về nội dung quy hoạch, phát triển kinh tế-xã hội, di dời dân cư. Bên cạnh đó, bản đồ chỉ cho biết chúng ta nằm trong vùng có nguy cơ cao về lũ quét và sạt lở đất hay không. Việc xảy ra lũ quét, sạt lở đất sẽ phụ thuộc vào lượng mưa. Để cảnh báo, phải có các thông tin quan trắc, mưa tại chỗ, số liệu ra đa kết quả dự báo mưa 3 tiếng, 6 tiếng, 24 tiếng từ các mô hình cảnh báo, kết hợp với việc xác định vị trí xảy ra lũ quét, sạt lở đất mới có thể đưa ra thông tin dự báo, cảnh báo về lũ quét và sạt lở đất.

Việt Nam hiện có 3.000 trạm quan trắc đo lượng mưa, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành quy hoạch phát triển mạng lưới KTTV quốc gia và nhiều địa phương cũng có các kế hoạch phát triển mạng lưới KTTV chuyên dùng. Dự kiến từ nay đến năm 2030, các trạm đo lượng mưa có thể tăng lên đến 30%, phát huy hiệu quả hơn trong công tác dự báo, cảnh báo lũ quét và sạt lở đất.

Hiện nay quan trắc mưa đã cơ bản tự động hóa và chúng ta có thể theo dõi thông qua nhiều ứng dụng khác nhau. Điều quan trọng là hầu hết các dữ liệu quan trắc hiện nay đã được tích hợp vào hệ thống thông tin cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất thời gian thực. Quan trọng hơn nữa là thông tin dự báo 3-6 giờ trời mưa như thế nào cũng được tích hợp trong hệ thống nên người dân cần đặc biệt quan tâm đến thông tin cảnh báo từ hệ thống này. Thông tin cảnh báo khu vực nguy cơ lũ quét, sạt lở đất thời gian thực được cung cấp trực tuyến trên trang thông tin điện tử của Tổng cục KTTV tại địa chỉ: https://luquetsatlo.nchmf.gov.vn và trong bản tin riêng cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.

Đối với một số vùng mật độ quan trắc, giám sát chưa đủ dày, hạn chế thông tin quan trắc cũng có thể được bù đắp dữ liệu bằng các phương pháp có tính khoa học như sử dụng dữ liệu ra đa, vệ tinh nên chúng ta có thể khắc phục bằng việc gửi tin nhắn của chính quyền địa phương và người dân cần chủ động tiếp nhận thông tin để phòng ngừa.

Các tỉnh miền núi phía bắc nước ta vừa trải qua một đợt mưa với cường độ lớn, nhiều địa phương đã xảy ra hiện tượng lũ quét, sạt lở đất. Hiện tại nền đất nơi đây hầu hết đã ngấm nước, nếu tiếp tục có mưa lớn thì nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất rất cao. Các cơ quan chức năng khuyến cáo người dân lưu ý đến thời điểm về đêm và sáng nhất là tại các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, … do các khu vực này trước đây đã xảy ra liên tiếp các đợt thiên tai mưa lớn, lũ, ngập, lũ quét, sạt lở đất.

Thực tế rất khó để dự đoán và giảm rủi ro lũ quét, sạt lở đất một cách hiệu quả. Những vụ sạt lở đất gây thiệt hại lớn trong thời gian vừa qua ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy điều đó. Cảnh báo lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến từng khu vực nhỏ như thôn, bản, khu dân cư để giảm đến mức thấp nhất thiệt hại vẫn luôn là thách thức không chỉ của riêng nước ta mà ngay cả với những nước có trình độ khoa học-công nghệ KTTV phát triển như Nhật Bản, Mỹ... Do đó, chỉ có khả năng cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất trong một khu vực nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo nhận định của Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia, hiện tượng ENSO đang trong trạng thái trung tính, dự báo có khả năng chuyển sang trạng thái La Nina từ tháng 10 đến 12-2024, với xác suất 60%-70%. Trong thời gian này, bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực biển Đông có khả năng xuất hiện ở mức xấp xỉ đến cao hơn trung bình nhiều năm, dự báo có 4 - 5 cơn bão, áp thấp nhiệt đới. Trong đó, số cơn đổ bộ vào đất liền có thể cao hơn trung bình nhiều năm (1,9 cơn), tập trung nhiều ở Trung Bộ và các địa phương phía Nam. Trên phạm vi cả nước, các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như giông, lốc, sét và gió giật mạnh tiếp tục có khả năng xảy ra. Mùa mưa tại khu vực Trung Bộ tập trung chính vào tháng 10 đến 11/2024. Tại Tây Nguyên và Nam Bộ, mùa mưa có thể kết thúc muộn hơn bình thường. Tổng lượng mưa ở Bắc Bộ tháng 10 và 11/2024 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm 10%-20%; riêng vùng núi thấp hơn 5%-10%. Tháng 12/2024, khu vực Bắc Bộ có mưa phổ biến 20 - 40 mm, thấp hơn trung bình cùng thời kỳ. Ở Trung Bộ, tổng lượng mưa tháng 10 và 11/2024 phổ biến cao hơn nhiều năm từ 10%-30%. Tháng 12/2024, tổng lượng mưa ở Bắc Trung Bộ thấp hơn 5 - 10 mm.

HOÀNG MAI
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 20 (Kỳ 2 tháng 10) năm 2024