Việt Nam đang bước vào một giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt. Khi Chính phủ đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số và đưa đất nước chạm mốc thu nhập trung bình cao vào năm 2030 đang trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động chính sách. Thế nhưng, nhìn từ góc độ phát triển bền vững, bất kỳ một biểu đồ tăng trưởng nào về kinh tế cũng có những khoảng trống lớn về sinh thái nếu chúng ta không có một bệ đỡ bảo tồn tương xứng.
Theo Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, áp lực từ mục tiêu tăng trưởng kinh tế đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng. Giữa bối cảnh thế giới đang đối mặt với bốn cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu bao gồm biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất và ô nhiễm môi trường, với hệ lụy nhãn tiền là mất từ 5% đến 10% nguồn gen kể từ Cách mạng Công nghiệp và khoảng 1 triệu loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Điểm sáng từ những nỗ lực thực địa
Cần phải khẳng định rằng, kể từ khi Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào ngày 28 tháng 01 năm 2022, công tác bảo tồn đã có những bước chuyển dịch đáng ghi nhận. Hơn 4 năm triển khai không phải là một chặng đường dài, nhưng những con số được lượng hóa trong Báo cáo sơ kết đã minh chứng cho những nỗ lực vượt bậc của toàn hệ thống từ trung ương đến địa phương.
Trong chiến công bước đầu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường với vai trò là cơ quan đầu mối thống nhất quản lý nhà nước về đa dạng sinh học, đã khẳng định rõ năng lực điều phối. Bộ đã chủ động tham mưu cho Chính phủ trong việc hướng dẫn, điều phối, theo dõi và tổng hợp tình hình triển khai chiến lược trên phạm vi toàn quốc. Việc phối hợp liên ngành được tăng cường toàn diện: từ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn loài nguy cấp, quản lý nguồn gen cho đến kiểm soát tác động tiêu cực và thực hiện các cam kết quốc tế. Công tác chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương cũng đã được gắn kết chặt chẽ với các điều ước quốc tế. Quá trình nội luật hóa các cam kết này không chỉ nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các bộ, ngành mà còn tạo cơ sở vững chắc để hợp tác, huy động các nguồn lực hỗ trợ quốc tế.
Về mặt không gian bảo tồn, tính đến năm 2025, Việt Nam đã thành lập được 180 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích đạt tới hơn 2,6 triệu hecta. Đáng chú ý, chỉ tính riêng trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025, hệ thống này đã được mở rộng thêm 4 khu bảo tồn mới. Việc quản lý các khu vực này dần đi vào chiều sâu nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại, trong đó tỷ lệ các đơn vị quản lý rừng ứng dụng thành công công cụ SMART (Hệ thống giám sát và báo cáo tuần tra) đã đạt tới con số 53%.

Đi cùng với đó, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc được duy trì ổn định trong mức từ 42% đến 43%; diện tích rừng ven biển được bảo vệ đạt 281.000 hecta, hoàn thành 102% so với kế hoạch đề ra. Đặc biệt, đề án trồng 1 tỷ cây xanh đã đạt được kết quả ấn tượng với 1 tỷ 400 triệu cây, vượt tới 43,9% so với mục tiêu ban đầu. Bước vào năm 2025, sau khi sáp nhập các đầu mối tỉnh thành, kết quả rà soát thực tế cho thấy đã có 16 trên tổng số 34 tỉnh, thành phố chủ động triển khai sâu rộng công tác khoanh nuôi tái sinh và phục hồi tự nhiên.
Sự phục hồi của tự nhiên còn được phản ánh sinh động qua sức sống của các loài hoang dã nguy cấp. Báo cáo sơ kết chỉ rõ, các chương trình bảo tồn loài ưu tiên như voi, linh trưởng, rùa biển, sếu đầu đỏ và sao la đã gặt hái được những kết quả thực tế. Điển hình là công tác bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo ghi nhận số lượng cá thể sinh sản tăng đột biến hơn 40% trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022. Mạng lưới cứu hộ được nâng cấp giúp giải cứu, chăm sóc và tái thả thành công nhiều cá thể quý hiếm như voọc Hà Tĩnh, cu li nhỏ, công má vàng và tê tê Java. Hệ thống Sách đỏ Việt Nam năm 2024 cũng đã được công bố chính thức đi kèm danh lục đỏ trực tuyến. Ở góc độ bảo tồn nguồn gen, Việt Nam đã thu thập được 82.700 nguồn gen và tiến hành giải mã thành công hệ gen của 6.100 nguồn gen khác nhau.

Giá trị kinh tế của hệ sinh thái cũng bắt đầu được định hình rõ nét thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, mang lại nguồn thu ấn tượng hơn 24 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2024, song hành cùng chương trình REDD+ đóng góp quan trọng vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Nỗ lực kiểm soát các áp lực ngoại lai cũng ghi nhận bước tiến lớn khi số lượng chiến dịch can thiệp hiện trường diệt trừ sinh vật ngoại lai xâm hại tăng mạnh qua các năm: nếu như năm 2015 chỉ có 180 đợt/năm thì đến năm 2024 đã tăng lên 310 đợt/năm và năm 2025 cán mốc hơn 340 đợt/năm. Những kết quả này cho thấy, khi dòng vốn đầu tư được khơi thông đúng hướng, tự nhiên hoàn toàn có khả năng tái sinh và mang lại lợi ích kép cho cả con người lẫn nền kinh tế.

Tuy nhiên, những gam màu sáng trên bức tranh thực địa vẫn chưa đủ sức che lấp những nghịch lý mang tính hệ thống mà Báo cáo sơ kết đã thẳng thắn vạch ra. Đầu tư cho đa dạng sinh học tại Việt Nam hiện nay vẫn đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động: Nguồn lực tài chính thiếu hụt trầm trọng.
Số liệu rà soát từ Báo cáo sơ kết đã chỉ rõ một thực tế: Tổng mức chi tiêu cho đa dạng sinh học tại Việt Nam (bao gồm tất cả các nguồn từ ngân sách nhà nước, vốn tài trợ quốc tế ODA cho đến xã hội hóa tư nhân) chỉ chiếm vỏn vẹn 0,16% GDP. Chiếm chưa đầy 0,2% tổng sản phẩm quốc nội cho một mảng cốt lõi của an ninh sinh thái là một chỉ dấu cho thấy sự lệch pha nghiêm trọng giữa tư duy đầu tư kinh tế và tư duy bảo tồn môi trường. Khi dòng vốn đổ vào tự nhiên quá nhỏ giọt, chúng ta không thể đòi hỏi một sự chuyển biến mang tính toàn diện và bền vững để đáp ứng các nhóm mục tiêu dài hạn, như phấn đấu đưa diện tích khu bảo tồn đất liền đạt 9% hay bảo tồn từ 3% đến 5% diện tích các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.

Không chỉ nghẽn ở nguồn lực tài chính, công tác bảo tồn hiện nay còn phải đối mặt với áp lực từ cuộc cải cách hành chính lịch sử. Năm 2025 là năm triển khai vào thực tế Nghị quyết 18 của Đảng về tinh gọn bộ máy, đưa bộ máy Chính phủ tinh giản còn 14 bộ và 3 cơ quan ngang bộ, sáp nhập các tỉnh thành từ 64 xuống còn 34 địa phương, đồng thời vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Sự thay đổi lớn về địa giới hành chính và cơ cấu tổ chức này, nếu không được điều phối một cách khoa học, rất dễ dẫn đến nguy cơ đứt gãy dữ liệu và buông lỏng quản lý ở cấp cơ sở.
Báo cáo sơ kết thừa nhận, nước ta hiện vẫn đang rơi vào khoảng trống khi thiếu một hệ thống giám sát, đánh giá tình hình thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương để có thể tính toán theo thời gian và giám sát đồng bộ theo các chỉ tiêu chiến lược. Minh chứng là cho đến năm 2024, trước thời điểm sáp nhập, mới chỉ có 16 địa phương ban hành được Kế hoạch hành động cấp tỉnh để triển khai chiến lược quốc gia.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý dù đã có những bước hoàn thiện như việc cụ thể hóa công tác quản lý loài nguy cấp tại Thông tư số 85 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành năm 2025, song vẫn tồn tại những rào cản kỹ thuật đáng kể. Hệ thống chính sách, quy phạm pháp luật hiện tại đang thiếu các quy định hướng dẫn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật cụ thể cho các công cụ quản lý mới như OECM (Biện pháp bảo tồn hiệu quả ngoài khu bảo tồn).
Đồng thời, các tiêu chí đánh giá về hiệu quả quản lý khu bảo tồn (trong khi mục tiêu đề ra là phải đánh giá được 70% khu bảo tồn) hay các hướng dẫn cụ thể về phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, đặc biệt là đối với các hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Việc chậm muộn trong xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật để thực hiện các dự án điều tra, quan trắc, giám sát đa dạng sinh học đang trực tiếp làm chậm tiến độ triển khai các đề án lớn, đơn cử như mục tiêu đưa các khu vực tự nhiên được quốc tế công nhận đạt mốc 15 khu đất ngập nước Ramsar, 14 khu dự trữ sinh quyển và 15 vườn di sản ASEAN vào năm 2030.
Từ những phân tích trên, rõ ràng Việt Nam không thể tiếp tục duy trì cách tiếp cận bảo tồn theo kiểu “mạnh ai nấy làm” hoặc coi bảo tồn là một nhiệm vụ tách biệt với phát triển kinh tế. Để giải quyết các xung đột lợi ích này, định hướng trong thời gian tới đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong tư duy quản trị môi trường hiện đại, chuyển dịch từ cách tiếp cận đơn lẻ sang bảo tồn dựa trên hệ sinh thái tổng thể.
Trước hết, chúng ta cần phải hiện thực hóa toàn diện các giải pháp được Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học đề xuất trong Báo cáo sơ kết. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm cụ thể hóa các khái niệm, công cụ mới về bảo tồn và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Song song với đó, cần thiết lập cơ chế đột phá nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, từng bước nâng tỷ lệ đầu tư cho đa dạng sinh học thoát khỏi mức đáy 0,16% GDP. Công tác truyền thông, giáo dục và tăng cường năng lực cũng phải được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động bảo tồn có trách nhiệm trong toàn xã hội.
Mặt khác, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương cần tăng cường triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng điểm của chiến lược. Đó là mở rộng và nâng cao hiệu quả không gian bảo tồn, gắn kết chặt chẽ giữa vùng lõi khu bảo tồn và khu vực hành lang ngoài bảo tồn qua mô hình OECM; đẩy mạnh phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, đặc biệt là các hệ sinh thái được ưu tiên. Tư duy quản lý phải chuyển tiếp mạnh mẽ từ việc bảo vệ một vài loài hoang dã đơn lẻ sang bảo vệ toàn vẹn môi trường sống của hệ sinh thái; tăng cường bảo tồn nguồn gen, chia sẻ công bằng lợi ích và bảo vệ tri thức truyền thống; đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt các áp lực trực tiếp lên tự nhiên.

Cuối cùng, đòn bẩy quyết định chính là việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản trị môi trường hiện đại. Việc 5 trên tổng số 14 chỉ tiêu giám sát của chiến lược đã đạt và vượt mức đề ra đến năm 2025 (như số lượng vườn di sản ASEAN vượt chỉ tiêu, tỷ lệ che phủ rừng ổn định, số chương trình gây nuôi tái thả loài ưu tiên vượt chỉ tiêu) cho thấy hiệu quả rõ rệt của sự lồng ghép chính sách. Một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia trực tuyến, thống nhất và liên thông sẽ giúp loại bỏ tư duy cục bộ địa phương, giúp các nhà hoạch định chính sách lồng ghép chặt chẽ yêu cầu bảo tồn vào từng dự án quy hoạch của 34 tỉnh thành sau sáp nhập ngay từ khâu bắt đầu.
Bảo tồn đa dạng sinh học không phải là một hành động "từ thiện" dành cho tự nhiên, và càng không phải là một “lực cản” kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Đó chính là khoản đầu tư thông minh cho chiếc phanh bảo hiểm của một quốc gia trước những thảm họa thiên tai và biến đổi khí hậu toàn cầu. Một bộ máy hành chính tinh gọn phải đi đôi với một hệ thống quản trị môi trường thông minh và hiệu quả. Việt Nam chỉ có thể tự hào về một nền kinh tế mạnh khi nền kinh tế đó được xây dựng trên một nền tảng sinh thái khỏe mạnh, toàn vẹn và trường tồn.