Từ những cánh đồng ứng dụng công nghệ cao đến các mô hình OCOP số, từ quản lý thủy lợi bằng dữ liệu thời gian thực đến khai thác khoáng sản tích hợp AI, Thanh Hóa đang từng bước hiện thực hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia . Khoa học công nghệ và chuyển đổi số không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành động lực mới cho nông nghiệp và môi trường.
Cuộc cách mạng công nghệ tại ruộng đồng
Những năm gần đây, cùng với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Thanh Hóa đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào sản xuất. Từ những cánh đồng lúa, vùng chuyên canh rau màu đến các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản quy mô lớn, công nghệ đang từng bước thay đổi tư duy sản xuất truyền thống của người nông dân.
Sự chuyển động ấy được thúc đẩy mạnh mẽ hơn sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tại Thanh Hóa, Nghị quyết nhanh chóng được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình, kế hoạch hành động, tạo nền tảng cho nông nghiệp chuyển từ sản xuất truyền thống sang kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Nếu như trước đây, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm, lao động thủ công và thiếu liên kết thị trường thì nay, nhiều quy trình đã được tự động hóa. Người dân có thể theo dõi nhiệt độ chuồng trại, điều chỉnh lượng thức ăn, kiểm soát môi trường nước hay cập nhật giá cả thị trường ngay trên điện thoại thông minh.
Theo số liệu từ ngành nông nghiệp, khoảng 88% trang trại chăn nuôi trên địa bàn đã ứng dụng công nghệ tự động hóa, bán tự động và cơ giới hóa. Nhiều cơ sở đầu tư hệ thống làm mát, camera giám sát, máng ăn tự động, xử lý chất thải khép kín nhằm giảm chi phí nhân công, hạn chế dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong trồng trọt, chuyển đổi số cũng mở ra hướng đi mới cho nông sản địa phương. Hàng trăm doanh nghiệp, HTX đã triển khai dán tem QR Code để truy xuất nguồn gốc. Việc minh bạch thông tin không chỉ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn nâng cao uy tín nông sản xứ Thanh trên thị trường.
Tại nhiều địa phương, mô hình tưới nhỏ giọt, tưới phun tự động kết hợp cảm biến độ ẩm đang giúp tiết kiệm nước, giảm nhân công và tăng năng suất. Trong nuôi trồng thủy sản, khoảng 31% diện tích nuôi tôm thâm canh đã ứng dụng công nghệ cao trong nhà bạt, nhà màng, cho phép kiểm soát chặt chẽ môi trường nuôi, giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu.
Không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, tỉnh còn xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ dự báo thị trường, thiết lập mã số vùng trồng cho gần 2.000 ha cây trồng, xây dựng bản đồ nông hóa và cổng thông tin kết nối cung – cầu nông sản an toàn. Những dữ liệu này giúp doanh nghiệp, HTX và người dân chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, tránh tình trạng “được mùa mất giá”.
Nông dân trở thành “người làm công nghệ”
Giữa dòng chảy chuyển đổi số ấy, nhiều mô hình khởi nghiệp nông nghiệp tại Thanh Hóa đang trở thành minh chứng sinh động cho tinh thần đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57.
Tại phường Nguyệt Viên, mô hình của chị Lê Thị Hồng Duyên là một trong những điển hình tiêu biểu. Sau thời gian du học và tiếp cận các mô hình nông nghiệp hiện đại ở nước ngoài, chị quyết định trở về quê hương cải tạo vùng đất hoang thành nông trại công nghệ cao.
Trên diện tích hơn 4 ha, chị Duyên đầu tư hệ thống nhà màng khép kín, tưới nhỏ giọt tự động, canh tác hữu cơ với các loại cây như dưa vàng, nho Hàn Quốc, dâu tây, cà chua… Không dừng lại ở sản xuất, HTX còn phát triển mô hình du lịch nông nghiệp trải nghiệm, thu hút nhiều trường học và du khách.
Chị Duyên chia sẻ: “Nông nghiệp hiện đại không thể chỉ dừng ở việc bán nông sản. Giá trị lớn hơn là tạo ra trải nghiệm, kết nối cộng đồng và lan tỏa lối sống xanh. Nếu biết ứng dụng công nghệ và tạo giá trị khác biệt thì nông nghiệp hoàn toàn có thể trở thành ngành kinh tế hấp dẫn với người trẻ”.
Sau gần một thập kỷ phát triển, HTX đã đầu tư hơn 6 tỷ đồng cho hệ thống nông nghiệp công nghệ cao, doanh thu mỗi năm đạt trên 1 tỷ đồng và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động địa phương.
Ở xã Nga Sơn, anh Nguyễn Văn Tuấn cũng đang mở ra hướng đi mới với mô hình nuôi cấy đông trùng hạ thảo ứng dụng công nghệ cao. Khởi nghiệp từ những lần thất bại và khoản nợ tiền tỷ, anh Tuấn đã kiên trì nghiên cứu môi trường nuôi cấy, điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và công thức giá thể để làm chủ quy trình sản xuất đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo.
Hiện cơ sở của anh có quy mô khoảng 1.000 hộp đông trùng hạ thảo mỗi ngày với hệ thống phòng nuôi khép kín, máy sấy lạnh, sấy thăng hoa hiện đại. Đến nay, doanh nghiệp đã có 7 sản phẩm OCOP 3 sao, tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Anh Tuấn cho biết: “Muốn cạnh tranh được thì phải làm thật, làm sạch và ứng dụng công nghệ bài bản. Chuyển đổi số cũng là cơ hội để sản phẩm OCOP địa phương tiếp cận khách hàng nhanh hơn, minh bạch hơn về nguồn gốc”.
Không chỉ người trẻ, nhiều nông dân lớn tuổi cũng đang thay đổi tư duy sản xuất. Ông Đỗ Văn Lương ở xã Điền Lư là một ví dụ. Từ bỏ công việc ổn định nơi thành phố, ông trở về quê phát triển trang trại cây ăn quả trên vùng đất đồi cằn cỗi. Sau nhiều năm kiên trì, ông đã xây dựng được vùng trồng với hàng nghìn gốc cam, bưởi, cau và dứa canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP.
Ông Lương chia sẻ: “Nếu không thay đổi cách nghĩ, cách làm thì nông nghiệp sẽ mãi nhỏ lẻ. Giờ làm nông cũng phải học kỹ thuật, học thị trường, học cách ứng dụng công nghệ thì mới tồn tại được”.
![]()
Tính đến ngày 4/5/2026, trong 252 nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và các kế hoạch, chương trình, thông báo kết luận của Trung ương, tỉnh Thanh Hóa đã hoàn thành 141 nhiệm vụ, đang thực hiện 23 nhiệm vụ, không có nhiệm vụ nợ đọng. Thanh Hóa bước đầu sau khi vận hành chính thức Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong những sản phẩm cụ thể khẳng định quyết tâm của tỉnh trong hiện thực hóa các mục tiêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trung tâm IOC Thanh Hóa có 14 phân hệ, lĩnh vực được tích hợp và đến nay đã được nâng lên 16 phân hệ; trong đó bao gồm: giám sát chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng; giám sát nhiệm vụ; giám sát các dự án thu hút đầu tư; giám sát xử lý văn bản và hồ sơ công việc; giám sát xử lý hành chính công; giám sát phản ánh kiến nghị; danh mục các dự án thu hút đầu tư; kết nối phân tích các dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư...
Dữ liệu số đang thay đổi cách quản lý tài nguyên, môi trường
Không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, tinh thần của Nghị quyết 57 còn đang lan tỏa mạnh mẽ sang lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
Tại Công ty TNHH MTV Sông Chu, các thiết bị đo mực nước tự động, camera giám sát từ xa và hệ thống cảnh báo xả lũ đã được đưa vào sử dụng để quản lý 79 hồ đập và hơn 200 trạm bơm trên địa bàn.
Đặc biệt, tại hồ chứa nước Cửa Đạt – công trình trọng điểm có dung tích phòng lũ lên tới 387 triệu m3 – hệ thống quan trắc tự động, camera giám sát, trạm đo mưa và khí tượng được kết nối trực tiếp về trung tâm chỉ huy phòng chống thiên tai của tỉnh. Dữ liệu thời gian thực giúp các đơn vị chủ động vận hành hồ chứa, giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra mưa lũ cực đoan.
Hiện toàn tỉnh đã lắp đặt 196 trạm đo mưa tự động, xây dựng nhiều bản đồ số hóa như bản đồ ngập lụt, bản đồ nguy cơ sạt lở, lũ quét… góp phần nâng cao hiệu quả dự báo và ứng phó thiên tai.
Trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, Công ty Cổ phần Vĩnh An cũng đang trở thành doanh nghiệp tiên phong ứng dụng chuyển đổi số và AI vào quản lý khai thác.
Hệ thống camera AI nhận diện phương tiện, trạm cân điện tử tự động, phần mềm quản lý dữ liệu theo thời gian thực được triển khai đồng bộ tại các mỏ cát Hoàng Giang, Thiệu Quang và Biện Thượng.
Ông Phạm Văn Đô, Giám đốc công ty cho biết: “Chúng tôi xác định chuyển đổi số là xu hướng tất yếu. Việc ứng dụng AI và quản trị dữ liệu tập trung giúp kiểm soát chặt chẽ từ khâu khai thác, vận chuyển đến tiêu thụ, hạn chế thất thoát tài nguyên và nâng cao tính minh bạch”.
Theo ông Đô, hệ thống còn hỗ trợ giám sát 24/7 nhằm đảm bảo an toàn lao động, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Nghị quyết 57 và khát vọng về nền nông nghiệp hiện đại
Những chuyển động mạnh mẽ trong nông nghiệp và môi trường cho thấy Nghị quyết 57 đang từng bước đi vào cuộc sống tại Thanh Hóa.
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ, đến tháng 5/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành 141/252 nhiệm vụ theo Nghị quyết 57 và các kế hoạch liên quan. Trung tâm giám sát, điều hành thông minh IOC Thanh Hóa hiện đã tích hợp 16 phân hệ, phục vụ giám sát điều hành trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún; hạ tầng số ở một số vùng nông thôn chưa đồng bộ; kỹ năng sử dụng công nghệ của một bộ phận người dân còn hạn chế. Không ít HTX, doanh nghiệp nhỏ thiếu nguồn lực đầu tư thiết bị hiện đại hoặc xây dựng hệ thống quản trị số bài bản.
Một trong những rào cản lớn hiện nay là tư duy sản xuất nhỏ lẻ. Dù hiệu quả từ các mô hình liên kết, cánh đồng lớn đã được chứng minh, nhưng nhiều hộ dân vẫn giữ tâm lý “giữ ruộng”, khiến việc tích tụ đất đai gặp khó khăn.
Từ thực tiễn đó, nhiều chuyên gia cho rằng, để nông nghiệp Thanh Hóa bứt phá cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành đồng bộ, hỗ trợ doanh nghiệp và HTX ứng dụng công nghệ cao, đồng thời đào tạo kỹ năng số cho nông dân.
Quan trọng hơn cả là thay đổi tư duy sản xuất. Khi người nông dân coi dữ liệu, thị trường và công nghệ là nền tảng của sản xuất hiện đại, chuyển đổi số mới thực sự phát huy hiệu quả.
Từ những cánh đồng công nghệ cao ở Nguyệt Viên, những phòng nuôi đông trùng hạ thảo tại Nga Sơn, trang trại cây ăn quả ở Điền Lư đến hệ thống AI tại các mỏ cát của Công ty Vĩnh An, có thể thấy khoa học công nghệ đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống sản xuất ở xứ Thanh.
Nghị quyết 57 không còn là những mục tiêu trên giấy, mà đang mở đường cho một nền nông nghiệp số, xanh và bền vững, nơi người nông dân trở thành trung tâm của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.