![]()
![]()
Thời gian qua, ngành Thủy sản Việt Nam duy trì đà tăng trưởng, trong đó nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản đều có những bước phát triển đáng ghi nhận. Sự phát triển của khoa học công nghệ, con giống, thức ăn dinh dưỡng và đặc biệt là công nghệ vật liệu, kết cấu lồng nuôi đang mở ra hướng đi mới cho nghề nuôi biển.
Ngày 28/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên sang phát triển toàn diện không gian biển, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Tập đoàn STP về những cơ hội, thách thức và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi từ lồng nuôi truyền thống sang lồng HDPE, hướng tới phát triển nuôi biển hiện đại.
![]()

PV: Hiện nay, rào cản lớn đối với người dân khi tiếp cận công nghệ lồng HDPE là vốn đầu tư ban đầu. Xin bà cho biết, việc giao quyền sử dụng khu vực biển, quy hoạch vùng nuôi tập trung lâu dài đang ảnh hưởng như thế nào đến tâm lý đầu tư của người dân?
Bà Nguyễn Thị Hải Bình: Đây là vấn đề có hai khía cạnh. Thứ nhất là cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân khi các địa phương phân vùng nuôi biển và người dân lựa chọn loại lồng phù hợp. Thứ hai là tâm lý của người dân khi tiếp cận một công nghệ mới.
Thời gian qua, STP Group đã đồng hành với bà con thông qua nhiều chương trình truyền thông, trao đổi trực tiếp để giúp người dân hiểu rằng khu vực nuôi có vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn loại lồng.
Không thể đưa một loại lồng ra sử dụng ở bất kỳ khu vực nào mà không tính đến điều kiện thực tế. Mỗi khu vực có đặc điểm riêng về địa hình, địa chất đáy biển, dòng chảy và các điều kiện tự nhiên... Những yếu tố này cần được nghiên cứu để xác định phương án thiết kế, hệ thống neo và các giải pháp kỹ thuật phù hợp.
![]()
![]()
Khi bắt đầu tham gia nuôi biển và phối hợp với các địa phương trong quá trình phân vùng nuôi, chúng tôi nhận thấy đây là công việc rất phức tạp. Nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều yếu tố tự nhiên, trong khi dữ liệu phục vụ nghiên cứu, quy hoạch và thiết kế còn hạn chế.
Có những loại dữ liệu chúng ta phải mua hoặc thuê từ các quốc gia đã có sẵn hệ thống dữ liệu biển. Vì vậy, không thể nói rằng người dân không lo lắng khi đầu tư. Ngay cả doanh nghiệp cũng phải liên tục học hỏi, nghiên cứu và hoàn thiện kinh nghiệm.
Tôi cho rằng đây là vấn đề cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành. Đối với doanh nghiệp, đây cũng là cơ hội để nghiên cứu, thiết kế và đưa ra những sản phẩm phù hợp hơn với từng khu vực.
![]()
![]()
Khó khăn lớn nhất hiện nay là người dân chưa biết chắc nên mua loại lồng nào, đặt ở vị trí nào và nuôi đối tượng gì để bảo đảm an toàn, hiệu quả. Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể đưa ra ngay câu trả lời đầy đủ cho bà con.
Do đó, bên cạnh truyền thông, cần xây dựng các chương trình đào tạo, tài liệu hướng dẫn và giáo trình kỹ thuật để người dân được tiếp cận kiến thức một cách bài bản. Những tài liệu này cần có cơ sở khoa học, đáng tin cậy và phù hợp với thực tiễn sản xuất.
Nếu được triển khai đồng bộ từ cơ quan quản lý, đây sẽ là cơ sở quan trọng giúp người dân hiểu rõ hơn về công nghệ, vùng nuôi và yêu cầu kỹ thuật, từ đó có thêm niềm tin khi đầu tư phát triển nuôi biển.

PV: Dù công nghệ lồng HDPE có nhiều ưu điểm nhưng chi phí đầu tư ban đầu vẫn là rào cản khiến nhiều ngư dân khó chuyển đổi từ lồng gỗ truyền thống. Vậy doanh nghiệp có giải pháp nào để hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ?
Bà Nguyễn Thị Hải Bình: Đây là vấn đề chúng tôi thường xuyên nhận được tại các sự kiện trong nước, quốc tế cũng như trong quá trình làm việc với các địa phương: Làm thế nào để người dân có thể tiếp cận lồng nuôi nhanh hơn, đồng thời giảm thiểu những tác động bất lợi đối với môi trường và hoạt động nuôi biển?
Trong quá trình triển khai từ năm 2018, STP Group đã phối hợp với một số hợp tác xã thực hiện các mô hình nuôi biển. Thực tế cho thấy, nếu doanh nghiệp chỉ cung cấp lồng theo hình thức cho người dân nợ tiền mà không gắn với trách nhiệm và cơ chế vận hành cụ thể thì hiệu quả sẽ hạn chế.
Từ thực tế đó, chúng tôi đang hướng tới những mô hình trong đó trách nhiệm được chia sẻ giữa người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng.
Một mô hình được xây dựng theo hướng phối hợp với hệ thống khuyến nông để phát triển hộ gia đình có sáu lồng nuôi đang được triển khai ở Phú Quốc (An Giang). Những hộ tham gia phải được cấp mặt nước và được cấp phép nuôi. Địa phương hỗ trợ một phần kinh phí, đồng thời tạo điều kiện để người dân tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất phù hợp.
Theo phương án dự kiến, tổng giá trị đầu tư có thể được phân chia thành ba phần: người dân đóng góp 30%, ngân sách địa phương hỗ trợ 30% và 40% còn lại do doanh nghiệp cung cấp theo hình thức trả chậm trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên.
![]()
![]()
Đây là mô hình tuy không mới nhưng đòi hỏi sự quyết tâm của địa phương từ lãnh đạo đến các cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở. Sau giai đoạn thí điểm, các bên sẽ đánh giá hiệu quả trước khi xem xét chuẩn hóa và nhân rộng.
Điều quan trọng là chính sách phải dựa trên năng lực thực tế. Nếu sau này số lượng hộ tham gia lên đến hàng nghìn hoặc hàng chục nghìn hộ thì địa phương có đủ nguồn lực để duy trì chính sách hỗ trợ hay không? Đồng thời, cần dự báo nhu cầu vốn trong 5-10 năm tới, khi người dân mở rộng sản xuất, thay thế hoặc chuyển đổi lồng nuôi.
Nếu không tính toán ngay từ đầu, mô hình rất dễ gặp khó khăn khi mở rộng quy mô.
Một hướng khác mà STP Group đang quan tâm là hợp tác với hợp tác xã để xây dựng chuỗi giá trị.
Thực tế cho thấy, một mô hình nuôi biển chỉ bền vững khi tạo ra đồng thời giá trị kinh tế, giá trị xã hội và giá trị nhân văn. Người dân cần nhìn thấy lợi ích thực tế và đầu ra ổn định cho sản phẩm.
![]()

![]()
Đặc biệt, chuỗi giá trị cần thời gian để vận hành. Nếu lợi ích kinh tế chưa đến ngay, một bộ phận người dân có thể dễ nản. Vì vậy, đào tạo, tổ chức sản xuất và bảo đảm đầu ra phải được triển khai đồng bộ.
Tại Vân Đồn (Quảng Ninh) hướng phát triển được doanh nghiệp nghiên cứu là kết hợp doanh nghiệp du lịch, người dân nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp công nghệ và đơn vị vận hành, hướng tới mô hình trang trại khép kín, kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế nuôi biển đa giá trị, trong đó sản xuất thủy sản được kết hợp với dịch vụ, du lịch và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, đa dạng hóa đối tượng nuôi không phải bài toán đơn giản. Cần nghiên cứu kỹ điều kiện môi trường, sự tương tác giữa các loài nuôi và khả năng tổ chức sản xuất.

PV: Để vươn xa bờ, hệ thống lồng HDPE phải chịu được gió bão và sóng lớn. Doanh nghiệp đã có những nghiên cứu, đánh giá hoặc giải pháp kỹ thuật nào để bảo đảm độ bền và an toàn lồng nuôi?
Bà Nguyễn Thị Hải Bình: Đây là những khó khăn mà người dân và nhiều địa phương đang gặp phải khi tính toán đầu tư lồng nuôi biển.
Hiện lồng HDPE là sản phẩm tương đối mới, trong khi giá thành chưa có sự thống nhất và hệ thống tiêu chuẩn chưa hoàn chỉnh cho từng loại lồng, từng điều kiện nuôi.
Việt
![]()
![]()
Tôi cho rằng việc xây dựng một bộ tiêu chuẩn chung cần có sự tham gia của địa phương, cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Lồng nuôi biển không thể mặc nhiên sử dụng cho nuôi sông, nuôi hồ hoặc các môi trường khác. Mỗi loại hình nuôi cần được thiết kế, lựa chọn vật liệu và kết cấu phù hợp. Đây cũng là cách tối ưu chi phí, tránh sử dụng sản phẩm có tính năng vượt quá nhu cầu gây lãng phí.
Khoa học công nghệ không phải là rào cản lớn. Điều quan trọng là phải đưa công nghệ vào sản phẩm theo cách phù hợp để người dân có thể tiếp cận, vận hành và duy trì trong thực tế.
Chúng ta không thể đưa ngay những sản phẩm có giá thành rất cao nếu vượt quá khả năng đầu tư của người dân. Ngành nuôi biển Việt
Doanh nghiệp phải nghiên cứu những sản phẩm vừa bảo đảm chất lượng, độ bền, vừa có chi phí phù hợp với khả năng tiếp cận của người dân.
Một định hướng quan trọng mà STP Group theo đuổi là phát triển các sản phẩm có khả năng tái sinh, tái chế, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm áp lực đối với môi trường.
Khi nghiên cứu vật liệu, cần tính đến toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ sản xuất, sử dụng cho đến khả năng tái chế, tái sinh sau khi kết thúc thời gian vận hành.
![]()
![]()
HDPE hiện được sử dụng trong nhiều sản phẩm nhựa phục vụ đời sống và công nghiệp phụ trợ. Vì vậy, cần đặt ra bài toán ngành nuôi biển có thể sử dụng bao nhiêu phần trăm vật liệu tái sinh từ nguồn vật liệu của xã hội, đồng thời vẫn bảo đảm các yêu cầu về kỹ thuật và an toàn.
Thời gian qua, STP Group đã phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị khoa học để nghiên cứu sâu về vật liệu HDPE, triển khai các đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ và các chương trình nghiên cứu liên quan đến sản phẩm lồng nuôi.
Một số nghiên cứu đã cho kết quả rất khả quan, vật liệu HDPE được đánh giá về khả năng không gây ô nhiễm theo các tiêu chí nghiên cứu và có độ bền sử dụng trên 20 năm trong điều kiện phù hợp.
Tuy nhiên, vật liệu chỉ là một yếu tố cấu thành hệ thống lồng nuôi. Bên cạnh vật liệu còn có kết cấu, hệ thống neo, phụ kiện và phương án vận hành.
Do đó, doanh nghiệp đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan khoa học nghiên cứu, đánh giá các giải pháp kết cấu lồng nuôi. Một số nghiên cứu đã bước vào giai đoạn hoàn thiện và dự kiến tiếp tục được đưa vào nuôi thử nghiệm để đánh giá trong năm 2027.
Mục tiêu là làm rõ khả năng ứng dụng của nhiều cấu hình lồng, đồng thời nghiên cứu khả năng kết nối giữa lồng nuôi với các phụ kiện, thiết bị và hạng mục liên quan, tạo thành một hệ thống nuôi biển đồng bộ.
![]()
![]()
Một vấn đề khác cần đặc biệt quan tâm là cập nhật dữ liệu. Điều kiện môi trường biển luôn biến động. Dòng chảy, thời tiết, đáy biển và nhiều yếu tố tự nhiên tại một khu vực có thể thay đổi theo thời gian. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của một thời điểm chưa chắc đã hoàn toàn phù hợp sau nhiều năm.
Tôi cho rằng, nếu chỉ sử dụng kết quả cũ mà không đánh giá lại, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi đưa vào ứng dụng. Những dữ liệu từng phù hợp trong một giai đoạn chưa chắc đáp ứng đầy đủ yêu cầu ở thời điểm hiện tại.
Do đó, nghiên cứu khoa học cần được kiểm chứng, cập nhật và điều chỉnh thường xuyên. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành giải pháp phù hợp với thực tế sản xuất.
Phát triển lồng nuôi biển bền vững vì vậy cần sự kết hợp đồng bộ giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, hoàn thiện tiêu chuẩn, khả năng tiếp cận của người dân và cơ chế đánh giá thường xuyên.

PV: Nghị quyết 20 nhấn mạnh ứng dụng công nghệ cao, hiện đại hóa nghề nuôi biển và chuyển đổi công nghệ lồng nuôi. Theo bà, việc chuyển từ lồng gỗ ven bờ sang lồng HDPE vươn xa bờ có vai trò như thế nào trong chiến lược này?
Bà Nguyễn Thị Hải Bình: Nghị quyết 20 tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản trên biển, chúng tôi kỳ vọng những định hướng này sẽ sớm được cụ thể hóa trong thực tiễn.
Thời gian qua, nhiều địa phương đã liên hệ với doanh nghiệp để tìm hiểu và đề nghị hỗ trợ xây dựng các mô hình nuôi biển mẫu. Đây là tín hiệu cho thấy địa phương có nhu cầu rất lớn trong việc xây dựng mô hình điểm, đánh giá, hoàn thiện rồi nhân rộng.
Từ tinh thần của Nghị quyết 20, chúng tôi mong muốn Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan chức năng nghiên cứu xây dựng một dự án về cụm công nghiệp nuôi biển, với cách tiếp cận tương tự khu, cụm công nghiệp trên đất liền.
![]()
Đây có thể là không gian tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ và phát triển chuỗi giá trị nuôi biển, đồng thời tạo điều kiện chuyển đổi nghề cho người dân ở những địa phương có số lượng lao động phải chuyển đổi sinh kế lớn do thực hiện các quy định về khai thác thủy sản.
Khi giảm nghề khai thác, một số tàu cá sẽ giải bản và một bộ phận ngư dân sẽ sang nghề khác, nhu cầu tạo sinh kế mới là rất lớn. Cụm công nghiệp nuôi biển có thể trở thành một dự án cụ thể để đưa định hướng phát triển kinh tế biển vào cuộc sống.
Trong đó cần xác định rõ cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề, chính sách đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và cơ chế để doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cụ thể hóa cơ chế giao biển và tổ chức không gian phát triển nuôi biển. Thực tế cho thấy, việc giao biển cho người dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp khi triển khai còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện chiến lược, quy hoạch và cơ chế giao biển theo hướng rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận, đầu tư lâu dài.
Chính sách cũng cần cụ thể: người dân được hỗ trợ bao nhiêu khi chuyển đổi nghề và tham gia nuôi biển; hợp tác xã được hỗ trợ ở mức nào; doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị được hưởng cơ chế gì.
Khi những nội dung này được lượng hóa, xác định rõ đối tượng, địa bàn, mức hỗ trợ và cơ quan chịu trách nhiệm, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân sẽ có cơ sở xây dựng phương án đầu tư, tổ chức sản xuất và tham gia chuỗi giá trị bài bản hơn.
![]()

![]()
Một chiếc lồng HDPE có thể tạo ra bước tiến về mặt công nghệ, nhưng để ngành nuôi biển phát triển bền vững cần một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó người dân có vùng nuôi ổn định, doanh nghiệp có cơ chế đầu tư dài hạn, hợp tác xã có năng lực tổ chức sản xuất, nhà khoa học cung cấp giải pháp công nghệ và thị trường bảo đảm đầu ra.
Khi các yếu tố này được kết nối, quá trình chuyển đổi từ nuôi biển nhỏ lẻ, gần bờ sang nuôi biển hiện đại, xa bờ sẽ có thêm nền tảng để phát triển.
Nuôi biển cần được xác định là một lĩnh vực phát triển kinh tế biển có tính ưu tiên cao, bởi ngoài giá trị kinh tế, ngành còn gắn với sinh kế của người dân ven biển, góp phần vào việc gỡ thẻ vàng IUU, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc phòng trên biển.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần sự chung tay của cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, cùng xây dựng một hệ sinh thái nuôi biển đồng bộ, lâu dài.
![]()
![]()
Về phía doanh nghiệp, STP Group cho biết sẵn sàng chia sẻ dữ liệu, thông tin, kinh nghiệm và kết quả từ những dự án đã và đang triển khai để cùng các cơ quan chức năng, địa phương nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, từng bước đưa những định hướng về phát triển kinh tế biển vào thực tiễn.
PV: Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trao đổi!
Bài cuối: Xuất khẩu thủy sản đảm bảo duy trì tăng trưởng hai con số