Bài 3: Hồi sinh vùng tâm hạn - Từ hồ Ông Kinh đến quản trị nước bằng dữ liệu
Khánh Hòa chuyển từ chống hạn sang quản trị an ninh nguồn nước

Bài 3: Hồi sinh vùng tâm hạn - Từ hồ Ông Kinh đến quản trị nước bằng dữ liệu

Thứ năm, 4/6/2026, 06:51 (GMT+7)
logo Ven hồ Ông Kinh, nơi từng được xem là một vùng “tâm hạn”, người dân đã quá quen với cảnh mùa khô đến là lòng hồ cạn trơ đáy, giếng khoan nhiễm mặn, cây trồng bấp bênh vì thiếu nước. Có những năm, người dân phải tính từng ngày còn nước trong hồ để quyết định có nên xuống giống hay không.

Nhưng từ khi nguồn nước từ hệ thống thủy lợi Tân Mỹ được đấu nối về hồ Ông Kinh, nhịp sống quanh vùng hạn đã bắt đầu đổi khác. Những cánh đồng hành, tỏi, ớt, nho quanh hồ dần ổn định hơn giữa mùa khô. Người dân không còn chỉ lo giữ cây qua hạn, mà bắt đầu tính chuyện sản xuất dài hơi và chủ động hơn. Câu chuyện hồ Ông Kinh cho thấy trong thời kỳ khí hậu cực đoan, quản trị nước không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm. Nó cần dữ liệu, bản đồ rủi ro, quan trắc, dự báo và những quyết định điều hành chính xác đến từng vùng tưới.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-16_1780126987.jpg
Hồ Ông Kinh cạn trơ đáy và tháng 4/2024
khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-3_1780127002.jpg
Đến tháng 4/2026, hồ còn gần 395.000/834.000m³ nước, bảo đảm phục vụ tưới cho khoảng 140 ha đất sản xuất tại các thôn Mỹ Tường và Mỹ Phong

Một vùng tâm hạn đổi khác nhờ dòng nước liên thông

Hồ Ông Kinh, xã Vĩnh Hải, từng được xem là một biểu tượng của khô hạn ở phía Nam Khánh Hòa. Vào mùa khô, lòng hồ nhiều thời điểm cạn trơ đáy; người dân phải khoan giếng sâu hàng chục đến hơn trăm mét để tìm nước nhưng nguồn nước ngầm vừa nhiễm mặn, vừa có lưu lượng thấp, không đủ duy trì sản xuất. Bước ngoặt xuất hiện từ tháng 8/2025, khi nguồn nước từ hệ thống thủy lợi Tân Mỹ được đấu nối bổ sung cho hồ Ông Kinh.

Từ một hồ chứa thường xuyên thiếu nước, hồ Ông Kinh dần duy trì được dung tích ổn định hơn trong mùa khô. Đến tháng 4/2026, hồ còn gần 395.000/834.000m³ nước, bảo đảm phục vụ tưới cho khoảng 140 ha đất sản xuất tại các thôn Mỹ Tường và Mỹ Phong. Với người dân vùng hạn, đó không chỉ là nguồn nước cho cây trồng, mà còn là dấu hiệu cho thấy một vùng đất từng khát nước quanh năm đang dần có thêm khả năng chủ động trước hạn hán.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-54_1780126991.jpg
Anh Hiển Minh cho biết người dân khu vực quanh hồ Ông Kinh không còn lo thiếu nước vào mùa hạn

Anh Hiển Minh, có hơn 4 sào trồng hành cách hồ Ông Kinh khoảng 500m, kể rằng trước đây vào mùa này hồ thường cạn, bà con phải đào giếng, tích nước để tưới tiêu. Sau khi hệ thống thủy lợi Tân Mỹ kết nối với hồ Ông Kinh, tình trạng thiếu nước giảm rõ. Hiện mực nước hồ vẫn còn khoảng 30-40%, người dân thuận lợi dẫn nước từ hồ về tưới hành, trồng nho.

Ông Nguyễn Công Xưng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận nhìn nhận, việc đưa nước từ hệ thống thủy lợi Tân Mỹ về hồ Ông Kinh không chỉ giải quyết bài toán trước mắt mà còn tạo nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Nguồn nước chủ động giúp giảm chi phí, hạn chế rủi ro xâm nhập mặn, đồng thời tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất. Trước đây chỉ một vụ bấp bênh, nay có thể 2-3 vụ ổn định mỗi năm. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực phía Nam tỉnh Khánh Hòa.

Sự thay đổi ấy không chỉ là câu chuyện của một hồ chứa. Nó cho thấy giá trị của liên thông nguồn nước trong quản trị hạn hán. Khi một hồ nhỏ đứng riêng lẻ, khả năng chống chịu rất hạn chế. Nhưng khi được bổ sung từ hệ thống lớn hơn, nó có thể trở thành điểm điều tiết, giúp vùng sản xuất quanh hồ chuyển từ thế bị động sang chủ động.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-49_1780126994.jpg
Hệ thống Tân Mỹ và hồ chứa nước Sông Cái bổ sung nguồn cho Nha Trinh – Lâm Cấm đã góp phần ổn định nguồn nước cho khoảng 12.800 ha sản xuất trong nhiều thời điểm khó khăn. Trong ảnh đập Nha Trinh chụp cuối tháng 5/2026

Từ thực tiễn vận hành, ông Nguyễn Công Xưng nhìn nhận các giải pháp liên thông, điều tiết và chia sẻ nguồn nước giữa các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Hệ thống Tân Mỹ và hồ chứa nước Sông Cái bổ sung nguồn cho Nha Trinh – Lâm Cấm đã góp phần ổn định nguồn nước cho khoảng 12.800 ha sản xuất trong nhiều thời điểm khó khăn. Các giải pháp liên thông quy mô nhỏ hơn như Sông Biêu – CK7 – Suối Lớn hỗ trợ Tân Giang, hồ Thành Sơn hỗ trợ khu tưới kênh Bắc, kênh Nam Nha Trinh hỗ trợ đập Tuấn Tú cũng giúp nhiều vùng cuối kênh, vùng khô hạn cải thiện khả năng chủ động nước tưới.

Theo ông Trịnh Đình Hiếu, Cụm trưởng Cụm Thủy nông kênh Chàm, nước được lấy từ đập Nha Trang qua kênh Chàm rồi đến Trạm bơm Phước Thiện, theo khoảng 6km kênh mương đưa đến tận các vườn, đủ phục vụ khoảng 100 ha quanh vùng. “Hiện chúng tôi bơm nước từ kênh Chàm từ thứ Hai đến thứ Sáu để đưa nước về phục vụ bà con tưới tiêu. Đây là khu vực chuyên canh hoa màu và trồng táo nên nhu cầu nước không cao như trồng lúa, vì vậy mùa khô hạn cơ bản vẫn đủ nước cho cả vùng khoảng 100 ha”, ông Hiếu cho biết.

Ông Đinh Văn Thành, thôn Phước Thiện, xã Phước Sơn cho biết, gia đình và bà con xung quanh trồng bắp, táo, gần như không gặp tình trạng thiếu nước nhờ hệ thống kênh mương từ Trạm bơm Phước Thiện dẫn vào. Năm nay nghe nói hạn cao, nhưng hiện nước khu vực này vẫn bảo đảm tưới tiêu.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-44_1780127011.jpg
Nước từ kênh Chàm qua trạm bơm Phước Thiện cơ bản cung cấp đủ nước cho cả vùng khoảng 100 ha

Những hình ảnh ấy cho thấy trong cùng một mùa hạn, không phải nơi nào cũng chịu tác động giống nhau. Có nơi ruộng nằm ngay sát hồ vẫn phải dừng sản xuất vì nguồn nước không đủ bảo đảm cho cả vụ. Nhưng cũng có nơi từng là “tâm hạn” lại dần hồi sinh nhờ hệ thống thủy lợi liên thông và chuyển đổi cây trồng phù hợp. Chính sự khác biệt đó đặt ra yêu cầu về một cách quản trị nguồn nước hoàn toàn mới: không thể điều hành theo cảm tính hay bình quân, mà phải xác định chính xác nơi nào thiếu nước, thiếu vào thời điểm nào, thiếu ở mức độ ra sao và nguồn nước cần được ưu tiên cho mục đích nào.

Trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan, quản trị nước không còn là bài toán “có nước hay không”, mà là bài toán phân bổ nguồn nước hiệu quả, đúng thời điểm và đúng nhu cầu sử dụng.

Quản trị nước phải nhìn được rủi ro trước khi hạn xảy ra

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa Nguyễn Duy Quang cho biết, công tác theo dõi, dự báo và cảnh báo thiên tai hiện nay phần lớn vẫn thực hiện theo phạm vi đơn vị hành chính với quy mô tương đối rộng, chưa đáp ứng yêu cầu dữ liệu chi tiết đến từng khu dân cư, vùng sản xuất tập trung, khu vực xung yếu hay công trình hạ tầng trọng điểm. Việc thiếu các bản đồ rủi ro thiên tai có độ phân giải cao, được cập nhật thường xuyên trên nền tảng dữ liệu không gian số đang khiến năng lực cảnh báo sớm và điều hành ứng phó còn nhiều hạn chế.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-45_1780127010.jpg
Hệ thống kênh mương thủy lợi giúp điều tiết nước đến những vùng khô hạn

Trong những năm qua, tỉnh đã xây dựng một số bản đồ chuyên đề như bản đồ sạt lở đất khu vực Nha Trang, bản đồ hạn hán khu vực phía Bắc tỉnh, bản đồ ngập lụt hạ du đối với một số hồ chứa lớn. Tuy nhiên, các bản đồ này được hình thành ở nhiều thời điểm khác nhau, phạm vi và phương pháp tiếp cận còn rời rạc, thiếu tính đồng bộ; nhiều dữ liệu chưa được cập nhật theo thực tế biến động về khí tượng thủy văn, địa hình, sử dụng đất và phát triển hạ tầng.

Theo ông Nguyễn Duy Quang, để nâng cao năng lực quản trị rủi ro thiên tai trong điều kiện khí hậu ngày càng cực đoan, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai nhiệm vụ xây dựng bản đồ cảnh báo thiên tai trên địa bàn tỉnh, bao gồm ngập lụt, sạt lở đất và hạn hán. Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ tiếp tục hoàn thiện và mở rộng các bản đồ chuyên đề như bản đồ vùng thiếu nước, bản đồ rủi ro hạn hán; từng bước hình thành cơ sở dữ liệu nguồn nước và thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu khí tượng thủy văn với các ngành, lĩnh vực liên quan. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để chuyển từ ứng phó thiên tai theo kinh nghiệm sang quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu, phục vụ điều hành nguồn nước, tổ chức sản xuất và cảnh báo sớm ngày càng chính xác hơn.

“Đối với nông nghiệp, giá trị của bản đồ hạn hán không nằm ở việc số hóa cho đẹp, mà ở khả năng ra quyết định. Nếu bản đồ cho thấy vùng cuối kênh có nguy cơ thiếu nước cuối vụ, địa phương có thể giảm diện tích lúa ngay từ đầu. Nếu dữ liệu hồ chứa cho thấy nguồn nước đủ cho cây trồng cạn nhưng không đủ cho lúa, ngành nông nghiệp có thể khuyến cáo chuyển đổi. Nếu quan trắc cho thấy một hồ nhỏ suy giảm nhanh, nước phải được ưu tiên cho dân sinh và chăn nuôi trước khi tính đến sản xuất”, ông Nguyễn Duy Quang nhận định.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-4_1780127002.jpg
Khi chuỗi dữ liệu được cập nhật thường xuyên, quản trị nước sẽ không còn là phản ứng sau khi hạn đã xảy ra, mà là dự báo và điều hành trước rủi ro

Cũng theo Giám đốc Sở NN&MT Khánh Hòa, trong tương lai, mỗi quyết định mùa vụ cần được hỗ trợ bởi một chuỗi dữ liệu: dự báo khí tượng thủy văn, dung tích hồ chứa, khả năng cấp nước của công trình, nhu cầu dùng nước từng vùng, loại cây trồng, lịch thời vụ, nguy cơ xâm nhập mặn và khả năng liên thông nguồn nước. Khi chuỗi dữ liệu ấy được cập nhật thường xuyên, quản trị nước sẽ không còn là phản ứng sau khi hạn đã xảy ra, mà là dự báo và điều hành trước rủi ro.

Câu chuyện hồ Ông Kinh vì vậy có ý nghĩa vượt ra ngoài một vùng sản xuất. Nó cho thấy nếu có dữ liệu đúng, công trình đúng và quyết định điều tiết đúng, một vùng từng bị xem là tâm hạn vẫn có thể hồi sinh. Nhưng nó cũng đặt ra yêu cầu cao hơn: không thể chỉ trông chờ vào một công trình hay một lần đấu nối. Khánh Hòa cần một hệ thống quản trị nước số hóa, liên thông, cập nhật và đủ chi tiết để mỗi mét khối nước được đưa đến nơi cần nhất, vào đúng thời điểm nhất.

 

Bài 4: Không chỉ cứu hạn: Khánh Hòa định hình lại nền nông nghiệp theo nguồn nước

Trung Nhân