Bảo tồn đa dạng sinh học: Từ cam kết toàn cầu đến hành động chiến lược của Việt Nam

Bảo tồn đa dạng sinh học: Từ cam kết toàn cầu đến hành động chiến lược của Việt Nam

Thứ ba, 26/5/2026, 06:57 (GMT+7)
logo Vừa qua, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn, thành phố Hải Phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp cùng Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đã trang trọng tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học năm 2026.

Sự kiện có sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị; Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hải Phòng Lê Anh Quân; Phó Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam Francesca Nardini; cùng các đồng chí lãnh đạo bộ, ban, ngành trung ương, địa phương, các nhà khoa học, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và đông đảo nhân dân.

Khủng hoảng sinh thái toàn cầu và thông điệp “Hành động tại địa phương, tạo tác động toàn cầu”

Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết: Đa dạng sinh học chính là nguồn vốn tự nhiên thiết yếu, là nền tảng của sự sống duy trì không khí, nước, lương thực và khí hậu cho con người; hơn 50% GDP toàn cầu dựa trực tiếp hoặc gián tiếp vào thiên nhiên và các dịch vụ hệ sinh thái. Dù vậy, hành tinh đang đối mặt với cuộc suy giảm báo động khi khoảng một triệu loài động, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, nhiều hệ sinh thái suy thoái nghiêm trọng, đe dọa sự phát triển bền vững của nhân loại.

toan-phat-bieu_1779554088.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị phát biểu tại buổi lễ

Trước bối cảnh cộng đồng quốc tế đang nỗ lực triển khai Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal nhằm đưa thiên nhiên trở lại quỹ đạo phục hồi vào năm 2030, thông điệp của Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học năm 2026 “Hành động tại địa phương cho hiệu quả toàn cầu” - mang ý nghĩa cốt lõi. Phân tích sâu sắc định hướng này, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị khẳng định: “Việc thực hiện hiệu quả các chiến lược và hành động bảo tồn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, với sự tham gia của toàn xã hội, sẽ góp phần quyết định thành công của các mục tiêu đa dạng sinh học toàn cầu và tương lai phát triển bền vững của nhân loại”.

Thực tiễn Việt Nam: Sự hài hòa giữa bảo tồn sinh thái và phát triển kinh tế

Thời gian qua, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong thực hiện Công ước Đa dạng sinh học, cụ thể hóa thành Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đến nay, Việt Nam đã hình thành mạng lưới 180 khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước (bao gồm các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển và khu bảo tồn đất ngập nước), với tổng diện tích trên 2,67 triệu ha; tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định trên 42%; nhiều hệ sinh thái quan trọng như rừng ngập mặn, rạn san hô và đất ngập nước từng bước được phục hồi. Nhiều khu vực được công nhận khu Ramsar, khu dự trữ sinh quyển thế giới, vườn di sản ASEAN, góp phần quan trọng vào bảo tồn các hệ sinh thái có giá trị toàn cầu, các loài nguy cấp tiếp tục được tăng cường bảo vệ thông qua các chương trình bảo tồn, cứu hộ và phục hồi sinh cảnh. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã huy động hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho công tác bảo vệ rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương và giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên.

Giá trị kinh tế từ rừng đã dần đóng vai trò quan trọng trong giải quyết công ăn, việc làm và ổn định sinh kế cho hàng triệu người dân vùng sâu, xa, nơi còn nhiều khó khăn, đồng thời đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hệ sinh thái biển và ven biển đóng góp khoảng 47–48% GDP quốc gia nếu tính cả các ngành kinh tế liên quan như thủy sản, du lịch, vận tải biển. Riêng ngành thủy sản mang lại việc làm cho hàng triệu lao động ven biển.

Đa dạng sinh học, vì vậy, không chỉ là câu chuyện bảo tồn, mà còn gắn chặt với phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh thái quốc gia.

Những hành động này không chỉ góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thịnh vượng và hài hòa với thiên nhiên.

5-1_1779435870_1779634989.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cùng các đại biểu trồng cây tại khu vực Hồ Côn Sơn

Đối mặt thách thức và 6 giải pháp chiến lược

Bên cạnh các thành tựu, Thứ trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra những thách như: suy thoái hệ sinh thái, mất sinh cảnh, ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa đại dương, khai thác quá mức tài nguyên, săn bắt buôn bán trái phép động vật hoang dã và tác động của biến đổi khí hậu. Thực trạng này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn xã hội, cải cách thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tăng cường trách nhiệm của khu vực tư nhân.

Nhằm ngăn chặn tốc độ suy giảm đa dạng sinh học, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị đã thay mặt Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra lời kêu gọi hành động với 6 nhiệm vụ, giải pháp căn cốt:

Một là, thống nhất trong nhận thức và hành động để ứng xử có trách nhiệm với đa dạng sinh học theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều ước quốc tế; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về  bảo tồn đa dạng sinh học; biến nhận thức thành ý thức tự giác và hành động cụ thể, thiết thực ở mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp và từng cá nhân; xây dựng xã hội có ý thức trách nhiệm, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với đa dạng sinh học;

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực để thực hiện các mục tiêu quốc gia về đa dạng sinh học; tăng cường lồng ghép đa dạng sinh học vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và các giải pháp dựa vào thiên nhiên;

Ba là, triển khai có hiệu quả các chiến lược, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học, chú trọng phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là rừng, đất ngập nước và hệ sinh thái biển; bảo tồn các loài nguy cấp, nguồn gen quý hiếm;

Bốn là, phát huy giá trị và sử dụng bền vững đa dạng sinh học; thúc đẩy các mô hình sinh kế bền vững gắn với bảo tồn đa dạng sinh học như du lịch sinh thái, phát triển sinh kế dưới tán rừng,…

Năm là, tăng cường thực thi pháp luật về đa dạng sinh học, kiểm soát tác động tới đa dạng sinh học, ngăn chặn khai thác tài nguyên và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã;

Sáu là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; huy động mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác quốc tế về bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học.

Với tinh thần cầu thị trong hợp tác quốc tế cùng sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực, Việt Nam kỳ vọng sẽ đạt được những thắng lợi nhất định trong công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Văn Thanh