Bảo vệ rừng “trụ cột kép” của môi trường và sinh kế

Bảo vệ rừng “trụ cột kép” của môi trường và sinh kế

Thứ sáu, 10/4/2026, 18:40 (GMT+7)
logo Giữa yêu cầu phát triển và áp lực tài nguyên ngày càng lớn, Nghệ An đang chọn một hướng đi rõ ràng: bảo vệ rừng không chỉ để giữ màu xanh môi trường, mà còn để giữ sinh kế cho hàng vạn người dân miền núi. Điều này được thể hiện rõ tại Hội nghị tổng kết công tác lâm nghiệp năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 vừa qua.

Bức tranh lâm nghiệp 2025: Gam màu sáng rõ nét

Năm 2025 có thể xem là một năm “được mùa” của ngành lâm nghiệp Nghệ An, khi hầu hết các chỉ tiêu quan trọng đều đạt, thậm chí vượt kế hoạch. Không chỉ là những con số tăng trưởng, phía sau đó là những chuyển động khá rõ trong cách quản lý rừng và tổ chức sản xuất.

Theo Chi cục Kiểm lâm Nghệ An, tính đến hết năm, toàn tỉnh có hơn 975.000 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm phần lớn với hơn 790.000 ha, còn lại là rừng trồng. Độ che phủ rừng tiếp tục giữ ở mức 59,16% – một con số ổn định nhiều năm nay, giúp Nghệ An giữ vị trí là địa phương có diện tích rừng lớn nhất cả nước.

lam-nghiep1_1775568353.jpg
Hội nghị tổng kết công tác lâm nghiệp năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026

Điểm đáng chú ý là khâu trồng và khai thác rừng trồng đều tăng tốc. Diện tích trồng rừng tập trung vượt mốc 25.000 ha, cao hơn kế hoạch trên 25%. Sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 2,37 triệu m³, vượt hơn 30% so với chỉ tiêu. Cùng với đó, công nghiệp chế biến lâm sản tiếp tục mở rộng với hàng loạt nhà máy sản xuất viên nén, MDF, dăm gỗ… và hơn 10.000 cơ sở chế biến lớn nhỏ. Nhờ vậy, giá trị gỗ rừng trồng được nâng lên, thị trường xuất khẩu cũng rộng mở hơn.

Một chuyển biến khác là việc quản lý rừng theo hướng bền vững đang dần đi vào nền nếp. Toàn bộ diện tích rừng do các chủ rừng nhà nước quản lý đã có phương án quản lý bền vững. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC/PEFC đạt hơn 40.000 ha – con số chưa phải quá lớn nhưng là bước đi cần thiết để gỗ Nghệ An có “tấm vé” vào các thị trường khó tính. Kim ngạch xuất khẩu lâm sản vì thế cũng tăng mạnh, vượt 135 triệu USD.

Ở góc độ bảo vệ rừng, tình hình có nhiều chuyển biến tích cực. Diện tích rừng bị thiệt hại do cháy giảm so với năm trước, và đáng chú ý là không xảy ra các vụ chống người thi hành công vụ – điều từng là nỗi lo ở một số địa bàn trước đây.

Mặt khác, công tác bảo tồn thiên nhiên cũng được chú trọng. Hơn 560 đợt tuần tra, truy quét đã được tổ chức; gần 500 cá thể động vật hoang dã được thả về môi trường tự nhiên. Việc kiểm soát nuôi nhốt, buôn bán động vật hoang dã được siết chặt hơn so với trước.

lam-nghiep2_1775568397.jpg
Nghệ An là tỉnh có độ che phủ rừng tiếp tục giữ ở mức cao 59,16%

Nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng cũng được “tiếp sức” từ các chính sách mới. Việc triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng và thỏa thuận giảm phát thải (ERPA) đã mang lại nguồn tài chính đáng kể. Riêng năm 2025, Nghệ An huy động và giải ngân hơn 234 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng (đạt 159% kế hoạch) và hơn 140 tỷ đồng từ ERPA. Những khoản chi trả này không chỉ hỗ trợ công tác quản lý mà còn giúp người dân có thêm thu nhập, gắn bó hơn với rừng.

Dù vậy, bức tranh lâm nghiệp vẫn còn những khoảng trống cần lấp. Tiến độ thực hiện quy hoạch, phát triển khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao hay giao, cho thuê rừng ở một số nơi còn chậm. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rừng chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Ở một vài địa bàn, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng tự nhiên vẫn còn xảy ra, dù đã giảm.

Bước sang năm 2026, ngành lâm nghiệp Nghệ An đặt mục tiêu khá cụ thể: bảo vệ hơn 971.000 ha rừng, trồng mới 21.000 ha rừng tập trung, khai thác khoảng 2,2 triệu m³ gỗ, nâng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững lên trên 50.000 ha, trồng thêm 9 triệu cây xanh phân tán… Quan trọng hơn, bài toán đặt ra không chỉ là tăng trưởng, mà là làm sao để rừng tiếp tục mang lại sinh kế ổn định cho người dân, đồng thời được bảo vệ lâu dài.

Rừng xanh, sinh kế bền: Câu chuyện từ cơ sở

Mỗi địa phương một cách làm, mỗi chủ rừng một hướng đi, nhưng tựu trung lại vẫn là câu chuyện giữ rừng sao cho bền, để người dân còn sống được từ rừng. Ở nhiều nơi, cách làm có thể khác nhau, cách tuyên truyền cũng không giống nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn gặp nhau ở một điểm: giữ rừng để giữ sinh kế và giữ cân bằng môi trường sống.

Tại xã Tam Thái – một địa bàn miền núi biên giới có hơn 35.600 ha diện tích tự nhiên, trong đó diện tích có rừng chiếm tới hơn 32.800 ha – câu chuyện ấy được nhìn rất rõ. Với độ che phủ rừng lên tới 91,92%, rừng ở đây không chỉ là tài nguyên, mà còn là không gian sống, là “cần câu cơm” của người dân, đồng thời là lá chắn sinh thái và yếu tố quan trọng gắn với quốc phòng – an ninh.

lam-nghiep3_1775568480.jpg
Ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: Bảo vệ rừng không chỉ là nhiệm vụ môi trường mà còn là nhiệm vụ phát triển; giữ rừng là giữ sinh kế

Chính vì vậy, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, Tam Thái xác định việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng không phải là việc theo phong trào, mà là nhiệm vụ lâu dài, phải “bám dân, bám bản, bám rừng”.

Bộ máy bảo vệ rừng ở cơ sở cũng được củng cố lại theo hướng rõ người, rõ việc. Xã thành lập ban chỉ đạo với 27 thành viên, đồng thời duy trì 11 tổ đội bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng với gần 200 người tham gia. Trong điều kiện địa bàn rộng, lực lượng mỏng, nếu chỉ trông chờ vào chính quyền xã thì khó có thể bao quát hết, nên việc phối hợp liên ngành được đặt lên hàng đầu. Kiểm lâm, công an, quân sự, các chủ rừng và lực lượng ở bản đều được huy động, lập các tổ liên ngành kiểm tra những khu vực dễ phát sinh vi phạm, chốt chặn các tuyến có nguy cơ vận chuyển lâm sản trái phép.

Một điểm đáng chú ý là cách làm tuyên truyền đã thay đổi. Ở vùng đồng bào dân tộc, những văn bản khô khan thường không mấy hiệu quả. Người dân cần được nghe, được hiểu theo cách gần gũi hơn. Vì thế, các nội dung bảo vệ rừng được lồng ghép vào các buổi họp bản, sinh hoạt cộng đồng, thậm chí được chuyển tải bằng nhiều thứ tiếng như Kinh, Thái, H’Mông, Tày Poọng… Nhờ vậy, câu chuyện giữ rừng không còn xa lạ mà trở thành việc chung của cả cộng đồng.

Không chỉ ở cấp xã, nhiều chủ rừng và doanh nghiệp cũng đang tìm cách làm mới. Như tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Con Cuông, việc phát triển rừng gỗ lớn được chú trọng hơn thay vì chỉ trồng rừng chu kỳ ngắn và từ đó hướng đến mục tiêu lớn hơn cho ngành gỗ trong tương lai.

Từ thực tiễn đó, các địa phương cũng thẳng thắn nêu ra những khó khăn. Nhiều ý kiến cho rằng lực lượng ở cơ sở vẫn còn thiếu trang thiết bị, đặc biệt là dụng cụ phục vụ chữa cháy rừng. Bên cạnh đó, câu chuyện đầu ra cho sản phẩm lâm nghiệp vẫn chưa thực sự ổn định. Các chủ rừng mong muốn có sự kết nối chặt chẽ hơn giữa người trồng rừng và doanh nghiệp, để hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ ổn định. Một hướng đi khác cũng được đề cập là phát triển mô hình nông – lâm kết hợp, trồng dược liệu, cây đặc sản dưới tán rừng để tăng thu nhập, qua đó giảm áp lực lên rừng tự nhiên.

lam-nghiep4_1775568821.jpg
Giữ rừng hướng đến phát triển kinh tế từ rừng, tạo sinh kế cho đồng bào là vấn đề trọng tâm

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Bối cảnh năm 2025 có nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết cực đoan, áp lực sinh kế lên tài nguyên rừng tăng cao, tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi… nhưng ngành lâm nghiệp địa phương đã nỗ lực hết sức mình, qua đó đạt được những kết quả khá toàn diện.

Trên nền tảng đã có, bước sang năm 2026, tỉnh đặt ra những mục tiêu khá rõ: giữ vững diện tích rừng hiện có, trồng mới khoảng 21.000 ha rừng tập trung, nâng tỷ lệ rừng gỗ lớn và rừng có chứng chỉ bền vững, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lâm sản. Cùng với đó là việc hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, thu hút doanh nghiệp đầu tư, đặc biệt là vào khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là đẩy nhanh giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất lâm nghiệp, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu số để quản lý rừng hiệu quả hơn trong bối cảnh mới.

Ở góc độ bảo vệ rừng, yêu cầu đặt ra vẫn rất cụ thể: chủ động phòng cháy theo phương châm “4 tại chỗ”, tăng cường phối hợp giữa kiểm lâm, công an, quân sự, biên phòng trong tuần tra, kiểm soát và xử lý dứt điểm các điểm nóng.

Nhìn từ cơ sở, có thể thấy câu chuyện lâm nghiệp hôm nay không còn dừng ở việc “giữ rừng cho có”, mà đã chuyển sang bài toán khó hơn: làm sao để rừng thực sự nuôi sống con người, và ngược lại, người dân tự nguyện giữ rừng như giữ chính sinh kế của mình.

 

Bùi Ánh