Thay vì bỏ đi hoặc đốt bỏ sau thu hoạch, nhiều nông dân ở khu vực phía tây Quảng Ngãi đang tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tự sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ cây trồng. Cách làm này không chỉ giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư mà còn mở ra hướng canh tác tuần hoàn, hạn chế ô nhiễm môi trường và cải thiện chất lượng đất sản xuất.
Ở làng Chờ (xã Ya Ly, tỉnh Quảng Ngãi), mỗi khi ghe đánh cá trên lòng hồ thủy điện Ya Ly cập bến, chị Lê Hồng Thanh lại tranh thủ thu gom cá tạp mang về làm nguyên liệu ủ phân cho vườn cây ăn quả của gia đình.
Gia đình chị hiện có 2 ha trồng sầu riêng, ổi và chuối. Trước đây, toàn bộ diện tích vườn phụ thuộc vào các loại phân hóa học như NPK, đạm, lân nên chi phí sản xuất luôn ở mức cao. Trong khi đó, đất canh tác sau nhiều năm sử dụng phân hóa học dần chai cứng, cây dễ phát sinh sâu bệnh hơn.
Năm 2021, sau khi tham gia lớp tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật do Hội Nông dân huyện Sa Thầy (cũ) tổ chức, chị Thanh bắt đầu tìm hiểu cách chế biến phân hữu cơ từ xác cá, kết hợp với rỉ mật mía, men vi sinh để thay thế dần phân hóa học.
Ngoài lượng cá tạp đánh bắt được ở lòng hồ thủy điện Ya Ly, gia đình chị còn thu mua thêm của người dân trong làng để làm nguyên liệu ủ phân. Theo chị Thanh, phân cá sau khi ủ đúng kỹ thuật có thể sử dụng để tưới trực tiếp cho cây trồng, giúp bổ sung dinh dưỡng tự nhiên và cải tạo đất.
“Với 2 ha cây ăn quả, mỗi vụ gia đình tưới phân cá 3 lần. So với dùng phân hóa học trước đây thì tiết kiệm được gần 20 triệu đồng mà cây vẫn phát triển tốt”, chị Thanh cho biết.
Điều khiến chị yên tâm hơn là vườn cây sau khi sử dụng phân hữu cơ ít bị sâu bệnh, lá xanh và trái phát triển đồng đều hơn trước. Nếu như trước kia sản lượng chỉ đạt khoảng 5 - 6 tấn quả mỗi năm thì hiện nay đã tăng ổn định lên 7 - 8 tấn.
“Mấy năm trước dùng nhiều phân hóa học, chi phí cao mà cây không bền. Giờ dùng phân cá, cây khỏe hơn, trái lớn hơn, sản phẩm cũng an toàn hơn cho người tiêu dùng”, chị nói.
Không riêng gì chị Thanh, nhiều hộ dân ở các địa phương miền núi Quảng Ngãi cũng đang chuyển dần sang mô hình sản xuất tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Tại thôn Đoàn Kết (xã Đăk Ui), ông Nguyễn Duy Thiếm đã theo đuổi cách làm này hàng chục năm nay. Từ những nguyên liệu tưởng như bỏ đi như vỏ cà phê, xác cá hay phụ phẩm chăn nuôi, ông xây dựng được mô hình sản xuất tuần hoàn khép kín, mang lại nguồn thu hơn 800 triệu đồng mỗi năm.
Ông Thiếm cho biết, từ năm 2000, ông được Trung tâm sản xuất và cung cấp giống cây của Viện Eakmat Tây Nguyên hướng dẫn kỹ thuật chế biến phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp. Từ đó, ông bắt đầu tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để phục vụ sản xuất của gia đình.
Tuy nhiên, chặng đường ban đầu không hề dễ dàng. Do thiếu kinh nghiệm, nhiều mẻ đạm cá bị hỏng, bốc mùi nồng hoặc không đạt chất lượng. Có giai đoạn ông phải tự mày mò điều chỉnh tỷ lệ men vi sinh, mật đường và thời gian ủ sao cho phù hợp với điều kiện thời tiết địa phương.
“Lúc mới làm thất bại vài lần, nhưng thấy cây phát triển tốt nên tôi tiếp tục nghiên cứu thêm. Trước kia, vỏ cà phê sau thu hoạch chất đống, còn phụ phẩm chăn nuôi nếu không xử lý dễ gây ô nhiễm. Giờ tận dụng hết để làm phân vừa sạch môi trường, vừa giảm được nhiều chi phí”, ông Thiếm chia sẻ.
Theo ông, sử dụng phân hữu cơ không cho hiệu quả tức thời như phân hóa học nhưng về lâu dài giúp đất tơi xốp hơn, cây bền hơn và giảm áp lực chi phí đầu vào.
Còn tại thôn Đăk Tân (xã Sa Bình), ông Nguyễn Văn Sơn cũng đang duy trì mô hình tự ủ phân hữu cơ cho vườn cà phê, sầu riêng và chôm chôm rộng 2 ha của gia đình.
Ông Sơn cho biết, trước đây gia đình sử dụng khá nhiều phân bón hóa học. Dù nhận thấy đất đai ngày càng bạc màu và sức khỏe bị ảnh hưởng, song do chưa có kiến thức nên ông vẫn chưa biết thay đổi bằng cách nào.
Năm 2023, sau khi tham gia lớp tập huấn kỹ thuật canh tác và sử dụng phân bón hữu cơ do địa phương tổ chức, ông bắt đầu học cách ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón.
Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có như vỏ trấu, vỏ cà phê, rơm rạ, ông thu gom, phơi khô rồi nghiền thành bột. Sau đó, ông phối trộn với phân động vật, nấm trichoderma cùng các loại đạm hữu cơ như đạm cá, nước đậu nành và mật rỉ đường để tăng hàm lượng dinh dưỡng.
Trong thời gian ủ, ông thường xuyên đảo trộn và bổ sung nước nhằm duy trì độ ẩm khoảng 70 - 80%. Sau khoảng 75 ngày, phân đạt yêu cầu để đưa vào sử dụng cho cây trồng.
“Nếu mua toàn bộ phân bón bên ngoài thì mỗi năm tôi tốn hơn 100 triệu đồng. Tự ủ phân giúp giảm khoảng một nửa chi phí”, ông Sơn nói.
Để tăng hiệu quả sử dụng phân hữu cơ, ông còn kết hợp với hệ thống tưới tiết kiệm, đưa phân lỏng trực tiếp đến rễ, thân và lá cây nhằm hạn chế thất thoát dinh dưỡng.
Sau thời gian áp dụng, ông nhận thấy cây cà phê, sầu riêng và chôm chôm xanh tốt hơn, lá dày hơn và năng suất cũng cải thiện rõ rệt. Theo ông Sơn, điều quan trọng nhất không chỉ là tiết kiệm chi phí mà còn là thay đổi được thói quen sản xuất lâu nay của người nông dân.
Theo lãnh đạo Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Quản lý chất lượng tỉnh Quảng Ngãi, việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tự sản xuất phân bón hữu cơ đang mang lại nhiều lợi ích rõ rệt cho người dân. Không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào trong sản xuất, mô hình này còn góp phần nâng cao hiệu quả canh tác và hạn chế lượng chất thải phát sinh trong nông nghiệp.
Khi sử dụng phân hữu cơ tự ủ, cây trồng phát triển ổn định hơn, năng suất và chất lượng nông sản được cải thiện, trong khi đất sản xuất từng bước được phục hồi độ màu mỡ. Đồng thời, việc giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học cũng giúp hạn chế ô nhiễm môi trường, duy trì sự cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng. Đây được xem là hướng đi phù hợp để phát triển nông nghiệp xanh, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi.