Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Xây dựng vùng an toàn dịch bệnh để mở rộng thị trường xuất khẩu

Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Xây dựng vùng an toàn dịch bệnh để mở rộng thị trường xuất khẩu

Thứ năm, 18/6/2026, 06:35 (GMT+7)
logo Dịch bệnh động vật từ lâu không chỉ là vấn đề của ngành thú y mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Trong bối cảnh yêu cầu về kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe, việc xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh đang trở thành điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm động vật.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Văn bản hợp nhất số 65/VBHN-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường hợp nhất các quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật. Văn bản được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT và các thông tư sửa đổi, bổ sung năm 2025, 2026, tạo khung pháp lý thống nhất cho hoạt động xây dựng, công nhận và duy trì cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh trên phạm vi cả nước.

chatgpt-image-11_38_02-15-thg-6-2026_1781498332.png

Không chỉ phòng dịch mà phải quản trị nguy cơ dịch bệnh

Một trong những điểm nổi bật của văn bản là yêu cầu cơ sở và vùng đăng ký an toàn dịch bệnh phải xây dựng đồng bộ ba lớp phòng vệ gồm: kế hoạch an toàn sinh học, kế hoạch giám sát dịch bệnh và kế hoạch ứng phó dịch bệnh.

Theo Điều 5, các cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phải xây dựng kế hoạch an toàn sinh học, thường xuyên rà soát nguy cơ phát sinh dịch bệnh và áp dụng các biện pháp kiểm soát nhằm ngăn chặn tác nhân gây bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc lây lan bên trong cơ sở. Kế hoạch này không chỉ dừng ở việc vệ sinh, khử trùng mà còn bao gồm nhận diện rủi ro, phân tích nguy cơ và xây dựng các giải pháp phòng ngừa phù hợp với từng loại hình sản xuất.

Song song với đó, Điều 6 quy định cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh phải xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh liên tục. Chủ cơ sở hoặc chính quyền địa phương phải theo dõi tình trạng sức khỏe vật nuôi, tổ chức lấy mẫu định kỳ, xét nghiệm phát hiện tác nhân gây bệnh và đánh giá hiệu quả tiêm phòng. Thời gian giám sát tối thiểu phải kéo dài 12 tháng trước thời điểm đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh. Điều này cho thấy, tư duy quản lý đã thay đổi từ xử lý dịch bệnh khi xảy ra sang phát hiện sớm, cảnh báo sớm và phòng ngừa từ xa.

chan-nuoi-2_1781498031.jpg
ảnh minh hoạ

Muốn được công nhận phải đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt

Theo Điều 10, cơ sở muốn được công nhận an toàn dịch bệnh phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện về vị trí địa lý, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống cấp thoát nước, kiểm soát động vật trung gian truyền bệnh và các yêu cầu về an toàn sinh học.

Đáng chú ý, cơ sở phải có biện pháp ngăn chặn động vật hoang dã và vật chủ trung gian mang mầm bệnh xâm nhập; phải bố trí khu cách ly, khu xử lý xác động vật, khu khử trùng tiêu độc riêng biệt; đồng thời bảo đảm hệ thống xử lý nước cấp và nước thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật phòng chống dịch bệnh.

Bên cạnh điều kiện cơ sở vật chất, văn bản còn quy định chặt chẽ về tình trạng dịch bệnh. Theo Điều 11, cơ sở đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh phải không xuất hiện bệnh đăng ký công nhận trong thời gian tối thiểu 12 tháng và các mẫu giám sát phải đạt yêu cầu xét nghiệm theo quy định. Đây là cơ chế bảo đảm việc cấp giấy chứng nhận dựa trên bằng chứng dịch tễ và dữ liệu giám sát thực tế thay vì chỉ dựa trên hồ sơ hành chính.

Gắn an toàn dịch bệnh với truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu

Một điểm mới đáng chú ý của văn bản là yêu cầu quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Theo Điều 12, cơ sở phải lưu giữ toàn bộ thông tin liên quan đến an toàn sinh học, tiêm phòng, giám sát dịch bệnh, vận chuyển động vật, sử dụng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất khử trùng và tình hình dịch bệnh phát sinh trong quá trình sản xuất. Hệ thống dữ liệu phải bảo đảm truy xuất được nguồn gốc động vật, tình trạng sức khỏe và toàn bộ các hoạt động thú y liên quan trong suốt quá trình nuôi.

Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu hiện nay không chỉ yêu cầu sản phẩm an toàn mà còn yêu cầu chứng minh được lịch sử dịch tễ và khả năng truy xuất nguồn gốc của từng lô hàng.

Đối với các cơ sở, vùng đăng ký an toàn dịch bệnh phục vụ xuất khẩu, Điều 9 quy định phải đáp ứng thêm các yêu cầu của nước nhập khẩu. Việc giám sát dịch bệnh, lấy mẫu xét nghiệm và đánh giá điều kiện an toàn phải tuân thủ tiêu chuẩn của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu hoặc hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH).

dich-ta2_1781498421.jpg
Cán bộ thú y lấy mẫu xét nghiệm, giám sát dịch bệnh trên đàn lợn. Công tác giám sát chủ động là một trong những điều kiện quan trọng để xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh phục vụ phát triển sản xuất và xuất khẩu.

Phân cấp mạnh cho địa phương trong công nhận an toàn dịch bệnh

Một điểm đáng chú ý khác của văn bản là việc đẩy mạnh phân cấp trong công tác công nhận cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh. Theo Điều 3, Cục Chăn nuôi và Thú y trực tiếp thẩm định, cấp giấy chứng nhận đối với vùng an toàn dịch bệnh cấp tỉnh hoặc các trường hợp phục vụ xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu. Các trường hợp còn lại được giao cho cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND cấp tỉnh phân công thực hiện. Việc phân cấp này giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời tăng tính chủ động của địa phương trong xây dựng các vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản an toàn dịch bệnh.

Có thể thấy, VBHN số 65/VBHN-BNNMT không đơn thuần là quy định về cấp giấy chứng nhận. Điểm cốt lõi của chính sách là hình thành hệ thống quản lý dịch bệnh dựa trên dữ liệu, giám sát chủ động, truy xuất nguồn gốc và quản trị rủi ro sinh học. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm và mở rộng cơ hội xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi, thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn tới.

 

Hồng Minh