Sau nhiều năm quân dân kiên trì ứng dụng khoa học kỹ thuật trong cải tạo giống, đất, chăm sóc... màu xanh của cây lá và những vườn rau đang dần tô đậm thêm sức sống nơi đầu sóng ngọn gió trên các đảo của quần đảo Trường Sa.
Tài nguyên và Môi trường là ngành đa lĩnh vực, do đó, nguồn nhân lực cho ngành luôn là vấn đề được Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm và đầu tư. Để đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay, cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có những giải pháp, cơ chế đặc thù để phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học chuyên ngành Tài nguyên và Môi trường.
Việc ghi nhận những đóng góp của đội ngũ trí thức tiêu biểu và tiếp tục nhân rộng, tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển, thu hút, đãi ngộ đội ngũ tiến sỹ; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để sử dụng trí thức, phát huy tài năng, trí tuệ của đội ngũ trí thức tiêu biểu để giải quyết các vấn đề cấp bách đặt ra cho Bộ Tài nguyên và Môi trường luôn là mục tiêu hàng đầu gắn với sự phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường trong những năm tiếp theo.
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay có gần 500 cán bộ, công chức, viên chức có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư, học vị Tiến sĩ. Đây là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn rất cao, được đào tạo bài bản trong nước và quốc tế, giàu kinh nghiệm thực tiễn, luôn sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của ngành TN&MT. Tạp chí Tài nguyên và Môi trường trân trọng giới thiệu Danh sách đội ngũ Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ có học hàm Giáo sư và Phó Giáo sư, học vị Tiến sĩ của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trong năm 2023, các kết quả thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo các lĩnh vực quản lý nhà nước đã đáp ứng được những nhu cầu thực tiễn trong hoàn thiện chủ trương, chính sách, quy hoạch, điều tra cơ bản đối với các lĩnh vực đất, tài nguyên nước, địa chất khoáng sản, khí tượng thuỷ văn, biến đổi khí hậu,…
Một công nghệ mới, lợi dụng vi sinh vật như một giải pháp thay thế bền vững cho các loại pin truyền thống, mở ra triển vọng về nền nông nghiệp xanh số hóa.
Tại Tọa đàm Trí tuệ nhân tạo: Tiềm năng đột phá và thách thức, trong khuôn khổ Tuần lễ VinFuture, các nhà khoa học hàng đầu thế giới về trí tuệ nhân tạo (AI) cho rằng, các quốc gia đang ở thời điểm tốt nhất để có thể tạo ra sự phát triển đột phá nhờ công nghệ AI, dù là nước phát triển hay đang phát triển như Việt Nam.
Giải thưởng Tạ Quang Bửu là Giải thưởng do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức định kỳ 3 năm/lần, thay vì tổ chức thường niên như trước đây, nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có kết quả nghiên cứu cơ bản xuất sắc, góp phần thúc đẩy khoa học và công nghệ của Việt Nam hội nhập và phát triển.
Với việc hoàn thành nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm diện rộng hệ sinh thái sản phẩm 5G cả phần cứng và phần mềm, Việt Nam trở thành một trong 5 quốc gia đầu tiên làm chủ công nghệ 5G.
Ô nhiễm không khí khiến hàng triệu người tử vong mỗi năm, đặc biệt là ở các thành phố lớn nhất thế giới. Vậy các siêu đô thị đã triển khai những biện pháp gì để thanh lọc không khí?
Nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát ảnh hưởng của quá trình ngâm (nước, natri metabisulfit (Na2S2O5), natri clorua (NaCl)); quá trình chần: 0, 3, 4, 5 (phút); quá trình sấy (50 và 600C) lên hàm lượng đường khử, hàm lượng anthocyanin, hàm lượng polyphenol (TPC) của bột khoai lang tím (KLT). Kết quả chứng minh rằng hoá chất ngâm, thời gian chần và nhiệt độ sấy có ảnh hưởng đến chất lượng của bột KLT. Trong cùng nhiệt độ sấy và hoá chất ngâm, các mẫu không chần có hàm lượng đường thấp (29.45 - 60.67 mg/g DW) so với các mẫu chần 3, 4, 5 phút (129.58 - 238.64 mg/g DW). Hàm lượng ianthocyanin tăng dần theo thời gian chần, mẫu chần trong 5 phút và sấy ở nhiệt độ i60C có hàm lượng anthocyanin cao nhất (0.311 mg/g DW). Khoai xử lí bằng dung dịch Na2S2O5, chần trong 5 phút, sấy ở nhiệt độ 500C có hàm lượng polyphenol cao nhất (7578.75 µg GAE/g DW).
Đổi mới sáng tạo xanh là một hướng tiếp cận để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.Việc triển khai đổi mới sáng tạo xanh ở các nước mới nổi và các đang phát triển sẽ là một động lực mạnh mẽ để mở rộng thị trường, nâng tầm thương hiệu quốc gia.
Bán dẫn là một ngành cần sử dụng tài nguyên nước và điện với khối lượng rất lớn. Riêng công ty TSMC - nhà sản xuất chip lớn nhất thế giới đã sử dụng gần 5% tổng lượng điện của Đài Loan (Trung Quốc) vào năm 2021. Việc sử dụng nước của công ty này đã trở thành chủ đề gây tranh cãi trong đợt hạn hán của khu vực này trong cùng năm.
Sáng 8/1, tại thị trấn Phong Nha, huyện Bố Trạch, Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) tổ chức buổi làm việc và ký kết biên bản hợp tác về nghiên cứu đa dạng sinh học, du lịch thám hiểm hang động với Vườn quốc gia Yorkshire Dales (Vương quốc Anh).
Nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo là giải pháp trọng tâm trong thúc đẩy quá trình chuyển đổi số. Do đó, Chương trình chuyển đổi số tài nguyên và môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 417/QĐ-BTNMT) đã xác định nhóm nhiệm vụ trọng tâm là “Phát triển các nền tảng trí tuệ nhân tạo, khai phá, xử lý dữ liệu lớn, các nền tảng thông minh cho công tác dự báo, cảnh báo, phân tích, tổng hợp, thống kê nhằm cung cấp, chia sẻ dữ liệu, thông tin về tài nguyên và môi trường theo thời gian thực phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội”.
Nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát và so sánh hàm lượng anthocyanin, hàm lượng polyphenol, hoạt tính chống oxy hoá (khả năng khử gốc tự do DPPH, khả năng khử ion Fe3+ (FRAP)). Quy trình trích ly được khảo sát ở công suất microwave là 600W, thời gian trích ly 8 phút, tỷ lệ nguyên liệu trên dung môi là 1g/40ml, dung môi là nước và ethanol (tỷ lệ 60% ethanol: 40% nước cất). Kết quả cho thấy tổng hàm lượng polyphenol, hàm lượng anthocyanin, khả năng khử gốc tự do DPPH, khả năng khử ion Fe3+ (FRAP) cao nhất trong dịch trích ly từ râu bắp tím (tổng hàm lượng polyphenol: 36,93 ± 1,44 mgGAE/ml; hàm lượng anthocyanin: 128,77 ± 2,12 mg/L; khả năng khử gốc tự do DPPH: 3,557 ± 0,020 mgTE/ml; khả năng khử ion Fe3+ (FRAP): 71,85 ± 1,65 mgTE/ml).
Nghiên cứu này đánh giá mức độ tích lũy 5 loại kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd và Cr) trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalvia) và trầm tích vùng biển ven bờ khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó, đánh giá khả năng tích lũy kim loại nặng trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalvia) thông qua hệ số tích tụ sinh học BSAF tại khu vực nghiên cứu. Đây là cơ sở khoa học cho việc đánh giá tác động môi trường, rủi ro sinh thái và rủi ro môi trường đối với sự ô nhiễm kim loại nặng do hoạt động công nghiệp, sản xuất và sinh hoạt của con người tại khu vực nghiên cứu.