news
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Phát triển kinh tế biển xanh phải bắt đầu từ đổi mới thể chế

Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản: Phát triển kinh tế biển xanh phải bắt đầu từ đổi mới thể chế

Thứ năm, 4/6/2026, 06:53 (GMT+7)
logo Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững: từ thể chế đến hành động”, sự kiện năm nay không chỉ lan tỏa nhận thức về vai trò của biển và đại dương mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị biển và huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế biển xanh. Nhân dịp này, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
chatgpt-image-14_54_10-3-thg-6-2026_1780473296.png
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản

PV: Ngày Đại dương thế giới năm 2026 được Liên hợp quốc lựa chọn chủ đề “Các khu bảo tồn biển vững mạnh cho hành tinh xanh của chúng ta”, trong khi Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm nay nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững. Xin ông cho biết làm thế nào để hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với bảo tồn biển, phục hồi hệ sinh thái và giảm rác thải nhựa đại dương?

Ông Nguyễn Quốc Toản: Việc hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với bảo tồn biển, phục hồi hệ sinh thái và giảm rác thải nhựa đại dương là yêu cầu xuyên suốt để thực hiện phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW. Quan điểm nhất quán của chúng ta là không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần; phát triển kinh tế biển phải dựa trên nền tảng bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên biển.

Trong thời gian tới, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam sẽ bám sát chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tập trung vào một số giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tăng cường công tác tham mưu quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia, phân vùng chức năng sử dụng biển và tiếp cận hệ sinh thái; bảo đảm việc khai thác, sử dụng không gian biển phù hợp với sức chịu tải môi trường và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.

Thứ hai, chú trọng đề xuất ưu tiên phát triển các ngành kinh tế biển xanh, phát thải thấp và thân thiện môi trường như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, du lịch sinh thái biển, logistics xanh và kinh tế tuần hoàn biển; đồng thời kiểm soát chặt các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển.

Thứ ba, tăng cường bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển quan trọng như rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn; gắn bảo tồn biển với phục hồi nguồn lợi thủy sản, hấp thụ carbon xanh và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Thứ tư, kiểm soát hiệu quả rác thải nhựa đại dương và nguồn thải từ đất liền ra biển theo hướng giảm phát sinh tại nguồn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế, phát triển kinh tế tuần hoàn; đồng thời tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp, cộng đồng và địa phương ven biển trong thu gom, phân loại và xử lý chất thải.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số nhằm giám sát môi trường biển, cảnh báo ô nhiễm và hỗ trợ quản trị biển hiện đại, hiệu quả.

Có thể khẳng định rằng, bảo tồn biển và phát triển kinh tế biển không phải là hai mục tiêu đối lập mà là hai trụ cột gắn bó hữu cơ. Chỉ khi bảo vệ tốt môi trường biển và hệ sinh thái biển mới có thể tạo nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế biển xanh, bền vững và thịnh vượng.

Muốn phát triển kinh tế biển xanh bền vững thì phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển đơn ngành sang quản trị biển tổng hợp, hiện đại, dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ và sự tham gia của toàn xã hội

na120260602053944_1780472655.jpg
Năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chọn Nghệ An là địa phương đăng cai chuỗi hoạt động cấp quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đại dương thế giới, Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam. Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp làm việc với UBND tỉnh về công tác chuẩn bị cho sự kiện.

PV: Một trong những điểm nhấn của Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm nay là Hội thảo quốc gia về hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong quản trị biển hiện nay và việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần tập trung vào những nội dung gì?

Ông Nguyễn Quốc Toản: Hiện nay, một trong những điểm nghẽn lớn trong quản trị biển là các quy định về biển còn phân tán, thiếu tính tích hợp và chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh, quản trị biển hiện đại. Không gian biển đang chịu áp lực rất lớn từ nhiều ngành, lĩnh vực cùng khai thác, sử dụng nhưng cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng và xử lý xung đột trong sử dụng không gian biển vẫn còn hạn chế.

Bên cạnh đó, cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế biển xanh còn khó khăn; nhiều dự án đầu tư trên biển có vốn lớn, rủi ro cao nhưng chưa có cơ chế ưu đãi đủ mạnh, ổn định và dài hạn.

Một điểm nghẽn quan trọng khác là thách thức từ ô nhiễm môi trường biển, suy thoái hệ sinh thái biển, rác thải nhựa đại dương và xói lở vùng bờ tiếp tục gia tăng; trong khi năng lực quan trắc, giám sát, dữ liệu biển, dự báo và cảnh báo môi trường biển còn phân tán, thiếu đồng bộ.

Từ thực tiễn đó, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được xây dựng tập trung xử lý một số nhóm vấn đề lớn.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm điều phối liên ngành, liên vùng và xử lý hiệu quả xung đột trong khai thác, sử dụng không gian biển.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế theo hướng công khai, minh bạch, hiệu quả; từng bước hình thành thị trường quyền sử dụng khu vực biển gắn với quản trị số và dữ liệu biển.

Thứ ba, xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội để thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, dịch vụ logistics biển và các ngành kinh tế biển mới; đồng thời có cơ chế chia sẻ rủi ro, ổn định chính sách và hỗ trợ điều tra cơ bản, khảo sát biển đối với các dự án đầu tư lớn trên biển.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, rác thải nhựa đại dương, phục hồi hệ sinh thái biển, bảo vệ vùng bờ và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái biển trước biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, hiện đại hóa công tác điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát biển và nâng cao năng lực quản trị biển dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số.

Có thể khẳng định rằng, việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này không chỉ nhằm khắc phục những bất cập hiện nay mà còn tạo nền tảng thể chế mới cho phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, bền vững, bảo đảm hài hòa giữa phát triển và bảo tồn, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và môi trường biển quốc gia.

chatgpt-image-14_51_01-3-thg-6-2026_1780473453.png

PV: Phát triển kinh tế biển xanh cần sự tham gia của 21 tỉnh, thành phố ven biển cùng cộng đồng doanh nghiệp. Cục Biển và Hải đảo Việt Nam có những định hướng gì về điều phối liên vùng, dữ liệu biển, quy hoạch không gian biển và huy động doanh nghiệp tham gia các ngành kinh tế biển mới thưa ông?

Ông Nguyễn Quốc Toản: Phát triển kinh tế biển xanh là nhiệm vụ liên ngành, liên vùng và cần sự tham gia đồng bộ của cả 21 tỉnh, thành phố ven biển cùng cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân.

Trong thời gian tới, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam sẽ bám sát chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tập trung vào một số định hướng lớn nhằm tăng cường điều phối liên vùng, quản trị không gian biển và thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới.

Trước hết, sẽ tiếp tục tham mưu hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng trong điều tra cơ bản, quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển trên cơ sở Quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, địa phương và giảm xung đột trong sử dụng không gian biển. Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp giữa Trung ương với địa phương ven biển trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và phát triển kinh tế biển bền vững.

Cùng với đó, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với Cục Chuyển đổi số trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu biển, hệ thống dữ liệu số đồng bộ, liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương; từng bước hình thành nền tảng dữ liệu mở phục vụ quy hoạch, quản lý không gian biển, cảnh báo môi trường biển và hỗ trợ hoạt động đầu tư, khai thác, sử dụng biển hiệu quả hơn.

Đối với quy hoạch không gian biển, định hướng là quản lý biển theo tiếp cận tích hợp, đa mục tiêu và dựa trên hệ sinh thái; trong đó phân vùng sử dụng biển rõ hơn các khu vực ưu tiên cho bảo tồn biển, phục hồi hệ sinh thái, năng lượng tái tạo ngoài khơi, cảng biển, logistics biển, nuôi biển công nghệ cao, du lịch biển và các ngành kinh tế biển mới nhằm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển.

Đồng thời, sẽ tập trung tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế biển xanh như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn biển, logistics xanh, carbon xanh, dịch vụ hệ sinh thái biển và các ngành công nghiệp biển mới. Trong đó, nghiên cứu xây dựng các cơ chế ưu đãi, chia sẻ rủi ro, hỗ trợ điều tra cơ bản, dữ liệu biển và ổn định chính sách đối với các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao và có tính dẫn dắt.

Có thể khẳng định rằng, muốn phát triển kinh tế biển xanh bền vững thì phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển đơn ngành sang quản trị biển tổng hợp, hiện đại, dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ và sự tham gia của toàn xã hội; trong đó doanh nghiệp sẽ giữ vai trò trung tâm trong đổi mới công nghệ, đầu tư xanh và hình thành các chuỗi giá trị kinh tế biển mới của Việt Nam.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Minh (thực hiện)