Trong chiến lược phát triển thủy sản bền vững, con giống luôn được xác định là “đầu vào quyết định” đến năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường. Năm 2026 được xác định là năm bản lề triển khai các định hướng mới của ngành thủy sản giai đoạn tiếp theo nên việc yêu cầu bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng và kiểm soát chặt chẽ con giống thủy sản tiếp tục được đặt ra như một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong tổ chức sản xuất.
Thực tiễn sản xuất cho thấy, nhiều rủi ro trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) bắt nguồn từ khâu con giống. Giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc, mang mầm bệnh là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao, chi phí sản xuất tăng, hiệu quả kinh tế giảm và khó đáp ứng các yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc của thị trường xuất khẩu.
Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư) cho biết, hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, dịch bệnh trên thủy sản nuôi, đặc biệt là tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi…vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, việc sử dụng con giống khỏe mạnh, có khả năng thích nghi cao, sạch bệnh trở thành yếu tố sống còn. Không chỉ phục vụ mục tiêu tăng sản lượng, con giống còn là nền tảng để ngành thủy sản chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế thủy sản, hướng tới giá trị gia tăng, phát triển bền vững.
Những năm gần đây, công tác quản lý, sản xuất và cung ứng giống thủy sản đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ sở sản xuất, ương dưỡng con giống từng bước được rà soát, sắp xếp lại theo hướng nâng cao điều kiện kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và an toàn dịch bệnh. Trong năm 2025, các cơ sở đã ương dưỡng giống thủy sản các loại đạt khoảng 392,5 tỷ con, trong đó tôm thẻ là 116,89 tỷ con và tôm sú là 50,69 tỷ con... Sản lượng giống các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ, cá tra, cá biển, nhuyễn thể, cá rô phi… cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước.
Theo ông Khôi, hiện nay nguồn giống thủy sản trong nước ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nhất là đối với tôm bố mẹ. Công tác nghiên cứu, chọn tạo, cải thiện di truyền giống, sản xuất giống sạch bệnh, giống thích ứng với điều kiện sinh thái từng vùng được quan tâm đầu tư. Cùng với đó, việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất giống như công nghệ sinh học, chọn lọc di truyền, kiểm soát môi trường, tự động hóa trong ương nuôi đã góp phần nâng cao chất lượng con giống.
Công tác quản lý nhà nước về giống thủy sản cũng được tăng cường thông qua hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên đề nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý và cơ sở sản xuất giống.
Ngoài những kết quả đạt được, theo ông Khôi công tác đảm bảo con giống thủy sản vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Hiện nay, nhu cầu con giống, đặc biệt là những đối tượng nuôi chủ lực phục vụ chế biến, xuất khẩu như cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, đặc biệt là giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ… phục vụ nuôi vẫn còn rất lớn. Bên cạnh đó, chất lượng giống giữa các cơ sở sản xuất chưa đồng đều; tình trạng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc vẫn còn xuất hiện ở một số địa phương, nhất là trong cao điểm vụ nuôi. Một số đối tượng giống chủ lực vẫn phụ thuộc nhất định vào nguồn nhập khẩu, tiềm ẩn rủi ro về dịch bệnh và chi phí.
Hệ thống cơ sở sản xuất giống quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu vẫn chiếm tỷ lệ lớn; tính liên kết giữa cơ sở sản xuất giống với vùng nuôi, doanh nghiệp chế biến chưa chặt chẽ. Công tác kiểm soát chất lượng giống ở một số địa phương còn gặp khó khăn do thiếu nhân lực, trang thiết bị và kinh phí. Trong khi đó, yêu cầu của thị trường xuất khẩu ngày càng cao, đòi hỏi con giống không chỉ khỏe mạnh mà còn phải đáp ứng các tiêu chí về an toàn sinh học, phúc lợi động vật và phát triển xanh.
Theo ông Trần Công Khôi, năm 2026 ngành thủy sản xác định tiếp tục coi công tác giống là một trong những khâu đột phá để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nuôi trồng thủy sản. Theo đó, các giải pháp đảm bảo con giống được triển khai đồng bộ từ thể chế, quản lý đến khoa học, công nghệ và tổ chức sản xuất.
Trước hết, tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý giống thủy sản theo hướng thống nhất, minh bạch, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu hội nhập. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, siết chặt quản lý chất lượng giống từ khâu sản xuất, lưu thông đến sử dụng tại cơ sở nuôi.
Ưu tiên phát triển hệ thống cơ sở sản xuất giống bố mẹ và giống thương phẩm đối với các đối tượng nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế cao như tôm nước lợ, cá tra, cá biển, nhuyễn thể, cá rô phi. Khuyến khích đầu tư các trung tâm sản xuất giống quy mô lớn, công nghệ cao, giống sạch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu; từng bước chủ động hoàn toàn nguồn giống trong nước.
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong chọn tạo, cải thiện di truyền giống; tăng cường hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và địa phương. Chú trọng phát triển các dòng giống tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt, phù hợp với từng mô hình nuôi và điều kiện sinh thái.
Tổ chức lại sản xuất giống gắn với liên kết chuỗi giá trị. Khuyến khích các mô hình liên kết giữa cơ sở sản xuất giống – vùng nuôi – doanh nghiệp chế biến – thị trường tiêu thụ, qua đó kiểm soát tốt chất lượng con giống, ổn định đầu ra và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn, nâng cao nhận thức của người nuôi về vai trò của con giống chất lượng. Hướng dẫn người nuôi lựa chọn, sử dụng giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm soát chất lượng; từng bước loại bỏ tình trạng sử dụng giống kém chất lượng vì giá rẻ, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
“Đảm bảo con giống không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài của ngành thủy sản. Khi con giống được kiểm soát tốt về chất lượng, số lượng và nguồn gốc, hiệu quả nuôi trồng sẽ được nâng cao, rủi ro dịch bệnh giảm, chi phí sản xuất được tối ưu, đồng thời tạo điều kiện để ngành thủy sản đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế”, ông Khôi nhấn mạnh.
Với quyết tâm đổi mới tư duy, tổ chức lại sản xuất và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, năm 2026 này được kỳ vọng sẽ là năm ngành thủy sản tạo bước chuyển mạnh mẽ trong công tác giống, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế thủy sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.