news
Đặt đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ làm động lực trung tâm

Đặt đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ làm động lực trung tâm

Thứ ba, 21/4/2026, 07:48 (GMT+7)
logo Các ĐBQH đề nghị tiếp tục chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, đặt năng suất đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ làm động lực trung tâm. Đồng thời hoàn thiện hạ tầng số đối với các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
ktxh8ok_1776690087.jpg
Bí thư Thành ủy Hà Nội, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI TP. Hà Nội Trần Đức Thắng

Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội chiều 20/4, nhiều đại biểu Quốc hội dành sự quan tâm và có những phân tích sâu về khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nhấn mạnh đây được coi là chìa khóa để Việt Nam bứt phá, không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng mà còn nâng cao năng lực tự chủ và sức chống chịu trước các biến động toàn cầu.

Tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Đại Thắng - Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên thẳng thắn chỉ rõ, áp lực điều hành ổn định kinh tế vĩ mô còn lớn, chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng chính.

Từ thực tế trên, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị, Chính phủ, các bộ, ngành cần tiếp tục cập nhật kịp thời những biến động của tình hình thế giới và tình hình thực tế trong nước để xây dựng các phương án, kịch bản khác nhau, bảo đảm chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới; kịp thời ứng phó với những tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, có giải pháp để kiểm soát tốt giá cả thị trường. Cùng với đó, cần tiếp tục chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, đặt năng suất đổi mới sáng tạo và KHCN làm động lực trung tâm. 

ktxh5ok_1776690087.jpg
Đại biểu Nguyễn Đại Thắng - Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên

ĐBQH Nguyễn Đại Thắng đề nghị Chính phủ tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ít nhất 1,5% GDP, khuyến khích doanh nghiệp trích Quỹ KHCN, miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng. Cần có quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo quốc gia để hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và chuyển đổi số. 

Đồng thời có chính sách đột phá để thu hút được các chuyên gia, nhất là các chuyên gia giỏi, người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc và phát triển khoa học đổi mới sáng tạo cho Việt Nam; có giải pháp đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu về nhân sự phục vụ sản xuất kinh doanh trước yêu cầu đòi hỏi mới của đất nước.

Về thu hút đầu tư nước ngoài, đại biểu Nguyễn Đại Thắng nêu rõ, phải chuyển từ thu hút bằng số lượng sang chất lượng, cần có chính sách chọn lọc ưu tiên dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, sử dụng nguồn nhân lực Việt Nam và liên kết với doanh nghiệp nội địa. Quan tâm và tiếp tục có cơ chế, chính sách đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

ktxh7ok_1776690087.jpg
Đại biểu Lý Thị Lan - Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang

Quan tâm tới việc hoàn thiện hạ tầng số đối với các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Lý Thị Lan - Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang cho rằng cần nhìn nhận vấn đề mang tính nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW. 

Phân tích sâu hơn, đại biểu chỉ rõ, hạ tầng số ở các khu vực này chưa được phát triển đồng bộ, không chỉ do khoảng cách về công nghệ mà chủ yếu còn thiếu từ những điều kiện hạ tầng cơ bản, nhất là về điện, viễn thông, cơ chế đầu tư công chưa phù hợp với đặc thù của địa bàn. Về bản chất, chuyển đổi số đối với miền núi không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư hạ tầng lớn, chuyển đổi số càng có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa dịch vụ đến gần người dân và cơ sở. 

ktxh6ok_1776690087.jpg

Tại tỉnh Tuyên Quang sau hợp nhất có địa bàn rộng hơn nhưng còn 41 thôn chưa có điện, 357 thôn, xóm có điện nhưng chưa ổn định, 199 thôn còn trắng sóng và lõm sóng. Dẫn thực tế này, đại biểu tỉnh Tuyên Quang nêu rõ, điện đã có nhưng chưa đủ, sóng đã đến nhưng chưa phủ kín, hạ tầng số đã hình thành nhưng chưa đồng bộ để chuyển thành năng lực phát triển thực chất. "Đây không còn là vấn đề kỹ thuật mà là một điểm nghẽn trong cấu trúc phát triển. Hiện nay nhiều chương trình lớn đang được triển khai song song nhưng ở khâu thực thi các nguồn lực vẫn phân tán, thiếu tính tích hợp. Thực tế cho thấy, khi có điện, có sóng và có hướng dẫn, người dân tiếp cận rất nhanh. Điều này khẳng định điểm nghẽn nằm ở cơ chế hạ tầng đầu tư số chưa đi trước và chưa đủ mạnh", đại biểu nhấn mạnh.

Do vậy, ĐBQH Lý Thị Lan cho rằng cần hoàn thiện định mức đầu tư hạ tầng số theo hướng phân biệt rõ địa bàn đặc biệt khó khăn, tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư, vận hành và bổ sung hệ số điều chỉnh phù hợp; tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện, viễn thông, hạ tầng số trong cùng một chương trình hoặc dự án, lồng ghép các nguồn lực hiện có và xác định rõ đầu ra đến cấp thôn, bản; nâng cao hiệu quả thực thi chính sách viễn thông công ích, tăng cường vai trò đầu tư của Nhà nước tại các vùng đặc biệt khó khăn. 

ktxh9ok_1776690088.jpg
Đại biểu Trần Văn Khải - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình

Ở khía cạnh khác, khi đặt kế hoạch đầu tư công 2026 - 2030 trong “trục” Nghị quyết 57-NQ/TW, đại biểu Trần Văn Khải - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình nhận thấy còn một số thách thức mới chưa được chỉ ra đầy đủ. Theo đại biểu, những thách thức đó là rủi ro lạc hậu công nghệ và lãng phí dự án số; khoảng trống thể chế cho đầu tư tài sản vô hình (dữ liệu, phần mềm lõi, thuật toán, sở hữu trí tuệ); rủi ro an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu; thiếu nhân lực chất lượng cao và năng lực quản trị dự án số/khoa học công nghệ ở cả trung ương và địa phương, nhất là cấp tỉnh; "nút thắt" năng lượng - môi trường của chuyển đổi số (trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo - AI, tiêu thụ điện lớn).

Để vượt qua các thách thức trên, đại biểu Trần Văn Khải kiến nghị nhóm giải pháp trọng tâm, thống nhất với tinh thần Nghị quyết 57 - NQ/TW, đó là đổi mới thể chế - phát triển hạ tầng - phát triển nhân lực - giám sát theo kết quả.
Song song với đó, cần thiết lập cơ chế quản trị danh mục dự án Nghị quyết 57-NQ/TW theo mô hình “quản lý danh mục”, tập trung vào nền tảng dùng chung; tránh đầu tư trùng lặp; yêu cầu dữ liệu chuẩn “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; dự toán đủ chi phí vận hành, bảo trì để hệ thống hoạt động liên tục, ổn định.

Bên cạnh đó, hoàn thiện thể chế cho tài sản vô hình và mua sắm đổi mới sáng tạo, cho phép đặt hàng, khoán chi, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với nhiệm vụ khoa học công nghệ, dữ liệu và nền tảng số; quy định rõ quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung. Coi an ninh mạng là cấu phần bắt buộc, mọi dự án số dùng ngân sách phải có “an toàn ngay từ thiết kế”. Tiếp đó là đầu tư cho con người, dành nguồn lực cho đào tạo STEM, quản lý dự án số, thu hút chuyên gia; huy động khu vực tư nhân tham gia PPP phù hợp và gắn với năng lượng và môi trường.

Thành Minh