Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái của cả nước. Với diện tích tự nhiên chiếm trên 27% diện tích cả nước, dân số hơn 11 triệu người, khu vực này sở hữu nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu và đa dạng sinh học phong phú, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đặc sản, nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình phức tạp, sản xuất còn nhỏ lẻ, hạ tầng chưa đồng bộ, nên để khai thác hiệu quả tiềm năng, khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo đóng vai trò then chốt, tạo bước đột phá trong phát triển.
Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích tự nhiên chiếm 27,5% cả nước (9,12 triệu ha), diện tích đất nông nghiệp chiếm 18,3 % cả nước (2,135 triệu ha), dân số chiếm 11,2% cả nước (11,24 triệu người), diện tích cây ăn quả 21,4% cả nước (xấp xỉ 272 nghìn ha), cây công nghiệp gần 7% cả nước (151 nghìn ha), cây lấy dầu 10,2% (303 nghìn ha), cây gia vị, dược liệu chiếm 8,9% (6 nghìn ha). Với sự đa dạng về đất đai, địa lý mang lại tiềm năng to lớn trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất hữu cơ, sản xuất tuần hoàn với các sản phẩm mang sắc thái bản địa gắn với du lịch.
Một số cây trồng chủ lực như cây chè khoảng 100.000 ha, chuối khoảng 24 nghìn ha, nhãn 25,3 nghìn ha, bưởi 24 nghìn ha, xoài 25 nghìn ha, cam 18 nghìn ha... và một số cây trồng khác như vải, na, dứa với diện tích khoảng 7.000 ha...
Ông Nguyễn Như Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, giai đoạn 2021–2025, các nhiệm vụ KHCN trong lĩnh vực trồng trọt đã tạo dấu ấn rõ nét tại khu vực Trung du miền núi phía Bắc. Nhiều giống cây trồng mới, tiến bộ kỹ thuật tiên tiến đã được nghiên cứu, công nhận và chuyển giao vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản. Thời gian qua, đã có 65 giống cây trồng các loại được công nhận và chuyển giao đưa vào sản xuất như lúa, ngô, khoai, đậu, cây ăn quả, cây công nghiệp; 12 tiến bộ kỹ thuật được công nhận và áp dụng trong sản xuất... đã tạo ra hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo anh ninh lương thực cho người dân trong vùng.
Hàng chục giống cây trồng mới thuộc các nhóm cây lúa, ngô, cây có củ, đậu đỗ, cây ăn quả và cây công nghiệp đã được đưa vào thực tiễn. Các giống lúa mới cho năng suất cao, thích ứng điều kiện khí hậu miền núi; giống ngô lai và ngô sinh khối nâng cao hiệu quả chăn nuôi; các giống đậu tương mới cho năng suất vượt trội so với giống đại trà; nhiều giống cây ăn quả như chuối, nhãn, na, ổi, bơ… có chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đặc biệt, nhóm giống chè chất lượng cao đã từng bước thay thế diện tích chè già cỗi tại Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ… nâng cao giá trị sản phẩm chè đặc sản. Việc nghiên cứu, chọn tạo giống không chỉ tập trung vào năng suất mà còn chú trọng chất lượng, khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu – yếu tố ngày càng tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp vùng núi. Song song với công tác giống, nhiều quy trình kỹ thuật tiên tiến đã được công nhận và áp dụng rộng rãi như: quy trình tái canh cây cam, quản lý tổng hợp sâu bệnh hại chè, kỹ thuật rải vụ cây na, kỹ thuật trồng và chăm sóc nho Hạ đen, quy trình thâm canh chuối tiêu, sản xuất chè an toàn theo hướng VietGAP… Các tiến bộ kỹ thuật này đã giúp giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả sản xuất, hạn chế tình trạng “được mùa mất giá”, nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Bên cạnh những nhiệm vụ khoa học, các mô hình khuyến nông và chuyển giao công nghệ, nhiều tiến bộ KHCN đã được các địa phương vùng Trung du miền núi phía Bắc đã được ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn, đem lại hiệu quả kinh tế tăng từ 20–40% so với sản xuất truyền thống. Đặc biệt, quy trình trồng và chăm sóc nho Hạ đen tại miền Bắc đã được áp dụng rộng rãi tại các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lạng Sơn… với quy mô 200 ha, đem lại lợi nhuận từ 300-500 triệu đồng/ha…
Việc cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ cao như nhà màng, tưới nhỏ giọt, sử dụng máy bay không người lái, chuyển đổi số trong quản lý sản xuất… đã từng bước thay đổi tập quán canh tác, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song nhiệm vụ KHCN vùng Trung du miền núi phía Bắc vẫn còn không ít hạn chế. Theo ông Cường, trước hết, cơ chế chính sách về chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa thực sự thông thoáng, chưa tạo động lực đủ mạnh để doanh nghiệp tham gia sâu vào hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KHCN. Việc phân chia lợi ích, xác định giá trị tài sản trí tuệ từ nguồn ngân sách nhà nước còn vướng mắc, làm chậm quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Bên cạnh đó, năng lực đội ngũ cán bộ KHCN còn thiếu các chuyên gia đầu ngành, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ số, công nghệ sinh học. Chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài chưa đủ hấp dẫn để giữ chân và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tại vùng miền núi.
Điểm hạn chế của vùng này là điều kiện địa hình bị chia cắt, giao thông khó khăn, quy mô sản xuất nhỏ lẻ khiến việc nhân rộng mô hình và áp dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật gặp nhiều trở ngại. Trình độ tiếp cận công nghệ của một bộ phận người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển giao.
Ngoài ra, nguồn lực đầu tư cho KHCN còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Tỷ lệ xã hội hóa nguồn vốn nghiên cứu còn thấp, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư theo chuỗi giá trị.
Để KHCN thực sự trở thành động lực phát triển nhanh và bền vững, theo ông Cường, vùng Trung du miền núi phía Bắc cần tập trung một số định hướng trọng tâm như:
Trước hết, tiếp tục ưu tiên nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, cần chú trọng nhóm cây đặc sản, cây bản địa gắn với xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông nghiệp.
Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp canh tác bền vững, giảm vật tư đầu vào, giảm phát thải khí nhà kính, khai thác hiệu quả tài nguyên đất và nước. Phát triển các mô hình nông, lâm kết hợp, sản xuất hữu cơ, sản xuất tuần hoàn nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao giá trị gia tăng.
Thứ ba, tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, viễn thám trong quản lý sản xuất, dự báo thời tiết, sâu bệnh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn phục vụ công tác quản lý, điều hành và kết nối thị trường. Đây là xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Thứ tư, phát triển công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch phù hợp với quy mô địa phương như công nghệ sấy hiện đại, bao gói khí quyển biến đổi (MAP), công nghệ enzym… nhằm nâng cao giá trị gia tăng, kéo dài thời gian bảo quản và giảm tổn thất sau thu hoạch, vấn đề còn khá phổ biến tại vùng miền núi.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng KHCN; xây dựng mô hình hợp tác công – tư trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; hình thành quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Các địa phương cần chủ động đặt hàng nhiệm vụ KHCN theo nhu cầu thực tiễn, gắn với phát triển chuỗi giá trị ngành hàng chủ lực.
Song song với đó, cần chú trọng đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân lực KHCN chất lượng cao; tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước để giải quyết các bài toán lớn của vùng.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và yêu cầu phát triển xanh, bền vững, việc đẩy mạnh nhiệm vụ KHCN tại vùng Trung du miền núi phía Bắc không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. KHCN giúp khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, khí hậu, đa dạng sinh học, nâng cao giá trị nông sản, cải thiện thu nhập cho người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.
Khi khoa học công nghệ được đặt đúng vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển, khi cơ chế chính sách được hoàn thiện và nguồn lực được tập trung đúng hướng, vùng Trung du miền núi phía Bắc hoàn toàn có thể bứt phá, trở thành vùng sản xuất nông nghiệp đặc sản, xanh, thông minh và bền vững của cả nước.
Đẩy mạnh nhiệm vụ KHCN chính là đầu tư cho tương lai của vùng đất giàu tiềm năng này, nơi khoa học, sáng tạo và khát vọng phát triển sẽ hội tụ, tạo nên động lực mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống người dân trong những năm tới.