Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa công tác dự báo khí tượng thủy văn

Thứ bảy, 1/3/2025, 08:54 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh biến đối khí hậu, nước ta hứng chịu nhiều thiên tai như: Bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, lũ lụt, tố, lốc, mưa đá, hạn hán,... với tần suất và cường độ ngày càng tăng. Để nâng cao công tác dự báo, giảm thiểu thiệt hại thiên tai thời tiết gây ra, việc ứng dụng chuyển đổi số vào lĩnh vực dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn (KTTV) nâng cao độ tin cậy, kịp thời của bản tin phục vụ tốt công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, giúp tăng cường sự an toàn và sự phát triển bền vững là giải pháp cho ngành KTTV. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên các đơn vị Đài KTTV khu vực, Đài KTTV tỉnh đóng vai trò quan trọng, chủ động triển khai hiệu quả công tác quan trắc, dự báo, khai thác thông tin dữ liệu,...

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa công tác dự báo khí tượng thủy văn

Đài KTTV khu vực Nam Bộ: Nghiên cứu ứng dụng khoa học, đưa công tác dự báo theo hướng định lượng hoá, tự động hoá

Mạng lưới quan trắc của Đài hiện nay đã tăng lên gần 480 trạm phân bố rộng khắp trên 19 tỉnh, thành phố và ngoài biển, các thiết bị quan trắc được chuyển đổi từ thủ công, bán thủ công sang hoàn toàn tự động với tỉ lệ 80%, số liệu quan trắc được thu thập chính xác, kịp thời phục vụ tốt cho công tác dự báo, cảnh báo thiên tai. Theo ông Lê Ngọc Quyền, Giám đốc Đài KTTV khu vực Nam Bộ cho biết, công tác dự báo KTTV của Đài đã liên tục có những bước phát triển vượt bậc. Trong đó, Đài đã chủ động tiếp nhận các kết quả chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh tự nghiên cứu ứng dụng đưa công tác dự báo theo hướng định lượng hoá, tự động hoá. Đài cũng tập trung đầu tư chuyển đổi số, chủ động đồng hóa số liệu toàn bộ các số liệu khí tượng bề mặt và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, chất lượng dự báo đã được nâng cao, công tác phục vụ KTTV ngày càng đa dạng, đáp ứng yêu cầu của các cấp, các ngành trong khu vực về phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai và phát triển KT-XH. 

Ngay từ đầu năm, Đài đã chủ động đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật lao động và nâng cao ý thức trách nhiệm của Quan trắc viên, tầm quan trọng của số liệu quan trắc. Mạng lưới trạm KTTV môi trường hoạt động ổn định, các trạm đã chủ động hơn trong việc xử lý các sự cố của công trình. Số liệu quan trắc môi trường nước và không khí của Đài KTTV khu vực Nam Bộ được duy trì thu thập, thống kê liên tục từ năm 1984 cho đến nay. Đây thực sự là một kho tài liệu môi trường nền phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu, đánh giá, hoạch định phát triển KT-XH của khu vực Nam Bộ. Hệ thống các trạm khí tượng, thủy văn, đo mưa tự động trên mạng lưới được thường xuyên kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng theo đúng qui định, định kỳ.

Với 39 trạm đo mặn trải rộng khắp 9 tỉnh thành ven biển Đông và biển Tây thuộc khu vực Nam Bộ, trong những năm qua, công tác đo mặn đã phản ánh kịp thời diễn biến xâm nhập mặn, đáp ứng và phục vụ tốt cho công tác thông tin dự báo và chỉ đạo sản xuất tại địa phương. Số liệu mặn của Đài KTTV khu vực Nam Bộ được thống kê, khảo sát thực hiện đo mặn từ năm 1990, luôn phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu, học tập và xây dựng mô hình cảnh báo xâm nhập mặn của các địa phương và toàn vùng Nam Bộ phục vụ tốt cho phát triển KT-XH của địa phương. 

Do có sự chỉ đạo chặt chẽ và tổ chức thực hiện nghiêm túc, vượt qua các khó khăn về kinh phí, đi sâu làm chủ thiết bị và quyết tâm phải duy trì mạng lưới hoạt động ổn định, 5 năm qua mạng lưới trạm ĐTCB của Đài được duy trì hoạt động ổn định và có những tiến bộ trong kỷ luật quan trắc, thực hiện quy trình quy phạm, bố trí, sắp xếp phòng làm việc, ghi chép sổ sách theo quy định. Các trạm đã chủ động hơn trong việc xử lý sự cố xảy ra đối với các công trình đo đạc vì vậy đã duy trì quan trắc, đo đạc liên tục, chính xác và kịp thời. Chất lượng ĐTCB đều đạt, vượt chỉ tiêu được giao và có nhiều tiến bộ qua các năm, có bước phát triển năm sau cao hơn năm trước.

Đài đã chủ động, mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm; sắp xếp lại nhân sự và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả; đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, trang thiết bị vào nghiệp vụ dự báo, tuân thủ nghiêm các quy trình, quy định dự báo KTTV và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong việc dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai; thực hiện chi tiết hoá bản tin và cảnh báo mức độ rủi ro thiên tai theo quy định. Những năm qua, Đài đã chỉ đạo quyết liệt, quyết tâm nâng cao chất lượng dự báo KTTV, nhiều chương trình, kế hoạch cụ thể được đề ra triển khai thực hiện đối với các Đài KTTV tỉnh đã từng bước nâng cao chất lượng dự báo, thể hiện qua các bản tin dự báo phục vụ địa phương; chất lượng dự báo hạn ngắn, hạn vừa đều đạt và vượt chỉ tiêu Tổng cục KTTV giao. 

Xác định công tác thông tin liên lạc là mạch máu, gắn kết hai khâu quan trắc và dự báo, Đài đã tập trung chỉ đạo: Duy trì hệ thống hoạt động thông suốt trong mọi tình huống, cung cấp, cập nhật đầy đủ các dữ liệu phục vụ công tác dự báo của Đài và các Đài KTTV tỉnh. Thực hiện tốt việc duy trì, bảo dưỡng hệ thống máy chủ, các thiết bị máy móc phục vụ công tác thông tin hoạt động ổn định. Chuẩn bị các phương án, thiết bị dự phòng thay thế cho hệ thống thông tin chuyên ngành trong những tháng cao điểm mùa lũ. Đảm bảo an toàn hệ thống mạng, không để xảy ra trường hợp máy tính bị nhiễm các mã độc, gây mất dữ liệu, an toàn an ninh môi trường mạng. 

Thông qua việc đảm bảo và khai thác tốt hệ thống hội thảo trực tuyến, Đài đã từng bước nâng dần chất lượng chuyên môn dự báo của các Đài KTTV tỉnh bằng hình thức thảo luận, trao đổi thông tin dự báo hàng ngày. Thời gian tới, Đài tiếp tục tăng cường theo dõi chặt chẽ, sát diễn biến các hiện tượng KTTV, đặc biệt là các hiện tượng KTTV nguy hiểm phục vụ tốt công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp và cộng đồng; giảm thiểu thiệt hại do thiên tai có nguồn gốc KTTV gây ra. Đồng thời, thúc đẩy triển khai các giải pháp nhằm chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực KTTV. Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới “Công nghệ 4.0”: IOT (Internet vạn vật), trí tuệ nhân tạo, các công nghệ khai thác dữ liệu lớn (BigData),... trong lĩnh vực KTTV, giám sát BĐKH.

Đài KTTV khu vực Miền núi phía Bắc: Chú trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác dự báo, cảnh báo 

Trong bối cảnh BĐKH hiện nay, các hiện tượng thời tiết, thủy văn, hải văn cực đoan có xu hướng ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất lặp lại. Điển hình là các loại thiên tai như lũ quét, sạt lở đất ở khu vực triền đồi, sườn núi, trong đó có khu vực miền núi phía Bắc; mưa lớn gây ngập lụt tại các khu đô thị lớn đông dân cư,… Để dự báo, cảnh báo được những loại hình thiên tai này, cần có hệ thống mạng lưới quan trắc tự động, truyền tin thời gian thực; mô hình dự báo hiện đại; cùng với kinh nghiệm, trách nhiệm của các dự báo viên. Giám đốc Đài KTTV khu vực miền núi phía Bắc Vũ Thanh Long cho biết, thời gian qua, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác theo dõi, giám sát, dự báo, cảnh báo KTTV được quan tâm đầu tư và hiện đại hóa. Mạng lưới quan trắc KTTV đã và đang được nâng cấp hiện đại, đồng bộ; chuyển dần từ quan trắc thủ công sang đo đạc tự động, đan dày các trạm quan trắc ở vùng núi, vùng sâu đảm bảo cung cấp số liệu phục vụ kịp thời cho công tác dự báo, cảnh báo, giám sát các hiện tượng KTTV. Các sản phẩm dự báo số trị được cập nhật 6 - 12 tiếng/lần, ảnh mây vệ tinh và ra đa cập nhật 10 phút/lần đã hỗ trợ tích cực trong việc theo dõi chặt chẽ diễn biến các hệ thống thời tiết. Các trang thiết bị phục vụ công tác dự báo, cảnh báo KTTV cũng được đầu tư tương đối hiện đại, đa dạng, từng bước hoàn thiện dự báo không giấy.

Theo Giám đốc Vũ Thanh Long, Đài luôn bám sát chỉ đạo của Tổng cục KTTV để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ về quan trắc, dự báo, cảnh báo, thông tin KTTV. Đài đã triển khai công tác cảnh báo sớm các thiên tai KTTV nguy hiểm như: Dự báo thời tiết, cảnh báo sớm thiên tai tới 10 ngày; dự báo, cảnh báo mưa lớn trước 2 - 3 ngày; cảnh báo dông sét trước từ 30 phút đến 2 - 3 giờ; cảnh báo nắng nóng, không khí lạnh trước 5 - 7 ngày. Các bản tin dự báo tháng, mùa cũng được chi tiết đến huyện và dự báo cụ thể nhiệt độ, mưa theo các thời kỳ. Bản tin cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến cấp huyện, một số đã đến được cấp xã. Ngoài ra, Đài đã ban hành các bản tin chuyên đề phục vụ các dịp nghỉ lễ, Tết, tổ chức các hoạt động quan trọng theo yêu cầu của các ban, ngành tại địa phương. Đài cũng chủ động, tích cực phối hợp thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án của ngành KTTV về thu thập số liệu KTTV tự động thời gian thực, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, kết hợp việc lồng ghép các số liệu của các ngành KT-XH, thông tin địa lý để áp dụng hiệu quả và từng bước xây dựng các phương án, mô hình chuyển từ dự báo, cảnh báo thiên tai sang dự báo tác động của thời tiết, thiên tai đến dân sinh và KT-XH. Đài đã thực hiện đa đạng hóa thông tin với các bản tin chuyên đề phục vụ các đối tượng sử dụng, đối tượng chịu tác động, các chuyên đề khác nhau; các hình thức truyền tin đa dạng hơn trên các nền tảng truyền thông, mạng xã hội,... giúp thông tin đến với khu vực, đối tượng chịu tác động nhanh hơn, chủ động hơn, dễ hiểu và dễ sử dụng hơn. Công tác dự báo, cảnh báo thiên tai đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đảm bảo độ tin cậy, chính xác.

Đài KTTV khu vực Bắc Trung Bộ: Các bản tin dự báo, cảnh báo sát với thực tế và đạt yêu cầu

Tháng 5/2024, Đoàn kiểm tra của Tổng cục KTTV đã tiến hành kiểm tra công tác dự báo, cảnh báo KTTV phục vụ PCTT của Đài cho thấy, Đài đã ra các bản tin dự báo, cảnh báo sát với thực tế và đạt yêu cầu cho công tác PCTT trên khu vực. Thực hiện nghiêm túc các quy định trong Quyết định số 18/2020/QĐ-TTg Quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai. Tham mưu cho UBND, Ban chỉ huy PCTT&TKCN các tỉnh trong khu vực có kế hoạch chỉ đạo phòng chống thiên tai có hiệu quả, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Các bản tin dự báo, cảnh báo KTTV được truyền đi dưới nhiều hình thức (email, fax, tin nhắn SMS, gọi điện thoại trực tiếp,...) và thường xuyên được cập nhật lên website của Đài khu vực và Đài tỉnh. Ngoài ra, còn được gửi đến các trạm KTTV trên địa bàn để cung cấp cho địa phương sở tại nơi trạm KTTV đóng. Trong tình huống thiên tai khẩn cấp, tần suất bản tin được phát nhiều hơn (01 bản tin/giờ); Chỉ đạo phòng Dự báo KTTV và 02 Đài KTTV tỉnh thực hiện nghiêm túc các Quyết định, Quy định về công tác dự báo, cảnh báo KTTV; Đài đã hoàn thành về số lượng và đảm bảo chất lượng các loại bản tin dự báo, cảnh báo KTTV.

Đài đã thực hiện tốt công tác quản lý mạng lưới trạm khí tượng, thủy văn, hải văn, môi trường, quan trắc định vị sét, giám sát BĐKH (gọi tắt là các trạm KTTV); Kịp thời chỉ đạo các trạm KTTV đo đạc các yếu tố đầy đủ về số lượng cũng như chất lượng đặc biệt quan tâm chỉ đạo để số liệu thực đo tại các trạm KTTV đảm bảo tính chính xác, kịp thời phục vụ công tác dự báo. Duy trì ổn định hệ thống thông tin liên lạc tại khối văn phòng Đài như: Mạng Internet, mạng nội bộ, đường truyền hình trực tuyến đảm bảo hệ thống phát huy tối đa hiệu quả đầu tư và phục vụ tốt nhất cho công tác lãnh đạo, điều hành của Lãnh đạo Đài. Ứng dụng khoa học trong việc thu nhận số liệu obs, typh, khắc phục việc thu, gom số liệu thủ công, tăng thời gian kiểm tra, kiểm soát nội dung, chất lượng các bản tin trước khi gửi đi; thực hiện công tác thu, nhận dữ liệu KTTV đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo chất lượng, quản lý kho tư liệu đúng quy phạm hiện hành. Thực hiện tốt công tác vận hành hệ thống HPC, vận hành, duy tu, bảo dưỡng, khai thác mạng lưới trạm KTTV tự động được đầu tư trên khu vực, đảm bảo chủ động trong việc khắc phục, sửa chữa hư hỏng đột xuất trong quá trình quản lý, vận hành hệ thống. Đã cải tiến công tác quản lý, chỉ đạo các trạm KTTV trong mạng lưới trạm do Đài quản lý, chú trọng việc quản lý và bảo dưỡng công trình, máy móc trang thiết bị chuyên môn tại trạm nhằm giữ vững và nâng cao chất lượng điều tra cơ bản của các trạm ngay từ gốc. Thực hiện công tác điều tra cơ bản đã hoàn thành xuất sắc công tác quản lý mạng lưới trạm KTTV, công tác quan trắc, đo đạc, kiểm tra, kiểm soát, xử lý tài liệu nên chất lượng điều tra cơ bản chung trên toàn Đài đều được Tổng cục KTTV xếp loại tốt, và là một trong các Đài KTTV khu vực có chất lượng điều tra cơ bản cao nhất vượt chỉ tiêu được giao.

HOÀNG MAI
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 24 (Kỳ 2 tháng 12) năm 2024