Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 1309/QĐ-BCT về kết quả rà soát cuối kỳ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Vương quốc Thái Lan.
Theo quyết định, Bộ Công Thương gia hạn thêm 5 năm việc áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với một số sản phẩm đường mía nhập khẩu vào Việt Nam, được phân loại theo các mã HS: 1701.13.00; 1701.14.00; 1701.91.00; 1701.99.10; 1701.99.90; và 1702.90.91, có xuất xứ từ Thái Lan.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/6/2026. Mức thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp được áp dụng từ ngày 16/6/2026 đến ngày 15/6/2031, trừ trường hợp được thay đổi, gia hạn theo quyết định khác của Bộ Công Thương căn cứ trên kết quả rà soát theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, hàng hóa bị áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp là đường sacarose. Tên gọi thông thường gồm đường cát, đường mía, đường kính, đường thô, đường trắng, đường tinh luyện, đường RE, đường RS...
Cơ quan điều tra xác định có tồn tại khả năng hàng hóa nhập khẩu bị điều tra rà soát sẽ tiếp tục hoặc tái diễn hành vi bán phá giá và được trợ cấp, gây thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp chấm dứt biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Về mức thuế, nhóm Mitr Phol Sugar Corp., Ltd.; United Farmer & Industry Co., Ltd.; Singburi Sugar Co., Ltd.; Mitr Kalasin Sugar Co., Ltd., với các công ty thương mại liên quan gồm Pacific Sugar Corporation Limited và Czarnikow Group Limited, bị áp dụng mức thuế chống bán phá giá 32,73% và thuế chống trợ cấp 0%.
Nhóm Thai Roong Ruang Industry Co., Ltd.; Thai Multi Sugar Industry Co., Ltd.; Thai Roong Ruang Corporation Limited; Phitsanulok Sugar Co., Ltd.; The Cholburi Sugar & Trading Corp., Ltd., với công ty thương mại liên quan là Siam Sugar Export Corporation Limited, bị áp dụng mức thuế chống bán phá giá 25,73% và thuế chống trợ cấp 4,65%.
Đối với tổ chức, cá nhân khác sản xuất, xuất khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Thái Lan, mức thuế chống bán phá giá là 42,99% và thuế chống trợ cấp là 4,65%.
Để xác định hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng áp dụng thuế, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa và giấy chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất. Chứng từ chứng nhận xuất xứ gồm giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc chứng từ tự chứng nhận xuất xứ phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan.
Trường hợp người khai hải quan không nộp được chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hàng hóa sẽ áp dụng mức thuế chống bán phá giá 42,99% và thuế chống trợ cấp 4,65%. Trường hợp chứng từ chứng nhận xuất xứ thể hiện hàng hóa từ các nước, vùng lãnh thổ khác không phải Thái Lan thì không phải nộp thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp. Trường hợp chứng từ chứng nhận xuất xứ thể hiện hàng hóa từ Thái Lan, cơ quan hải quan tiếp tục kiểm tra giấy chứng nhận nhà sản xuất và tên tổ chức, cá nhân xuất khẩu để xác định mức thuế tương ứng.
Liên quan đến vấn đề trên, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1310/QĐ-BCT về việc gia hạn biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số sản phẩm đường mía.
Theo quyết định này, biện pháp chống lẩn tránh được áp dụng đối với một số sản phẩm đường mía nhập khẩu vào Việt Nam thuộc các mã HS nêu trên, có xuất xứ từ Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia và Myanmar.
Đối với hàng hóa thuộc diện áp dụng biện pháp chống lẩn tránh, tất cả các công ty sản xuất, xuất khẩu của Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia và Myanmar bị áp dụng mức thuế chống bán phá giá 42,99% và mức thuế chống trợ cấp 4,65%, trừ trường hợp được quy định không áp dụng biện pháp chống lẩn tránh tại thông báo kèm theo quyết định.
Quyết định số 1310/QĐ-BCT cũng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/6/2026. Các quyết định miễn trừ việc áp dụng biện pháp chống lẩn tránh đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành trước ngày quyết định này có hiệu lực tiếp tục được thực hiện đến hết thời hạn hiệu lực của quyết định miễn trừ đó.
Sau khi quyết định có hiệu lực, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các cơ quan quản lý liên quan kiểm tra, theo dõi, giám sát hiệu quả thực thi trên cơ sở thông tin về tình hình nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng áp thuế và hàng hóa có khả năng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại do cơ quan hải quan cung cấp.