Hà Nội đặt mục tiêu nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản

Thứ tư, 30/10/2024, 08:58 (GMT+7)
logo UBND Thành phố Hà Nội vừa triển khai Đề án bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021 - 2030. Thành phố đặt mục tiêu nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân và doanh nghiệp. Đến năm 2030, Hà Nội kỳ vọng đạt được nhiều mục tiêu cụ thể như kiểm soát chặt chẽ nguồn ô nhiễm từ các hoạt động nuôi trồng, chế biến và khai thác thủy sản.

Hiện nay, TP. Hà Nội có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 30.840 ha (trong đó ao, hồ nhỏ là 6.706 ha; hồ chứa mặt nước lớn 4.327 ha; ruộng trũng là 19.807 ha). Bên cạnh đó, còn có nhiều các sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Tích, sông Bùi,… chạy qua, do đó, có thể người dân nuôi trồng, khai thác thủy sản. Bên cạnh đó, còn nhiều hồ phân bố tại các quận, huyện, thị xã,… các huyện ngoại thành có nhiều hồ nhỏ, có một số hồ có diện tích lớn như hồ Suối Hai, hồ Đông Mô, hồ Quan Sơn,…

Theo báo cáo, trong quý I/2024, tổng sản lượng chăn nuôi thủy sản đạt khoảng 26.800 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2023. Sự tăng trưởng này nhờ vào việc áp dụng các công nghệ nuôi trồng tiên tiến và nâng cao hiệu quả quản lý. Hà Nội đang đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ đạt diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 25.000 ha, trong đó vùng chăn nuôi thủy sản tập trung là 10.000 ha.

Mặc dù có lợi thế về diện tích mặt nước, chăn nuôi thủy sản ở Hà Nội vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng do tình trạng ô nhiễm nguồn nước từ các sông lớn và giá thức ăn chăn nuôi tăng cao. Cơ sở hạ tầng ở các vùng nuôi thủy sản tập trung chưa được đầu tư đồng bộ, gây khó khăn cho việc áp dụng công nghệ cao. Hiện nay, Hà Nội có 25.800 hộ nuôi trồng thủy sản, nhưng đa số là các hộ nuôi nhỏ lẻ, với sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa và giá trị chưa cao.

Để phát huy lợi thế, tận dụng nguồn lợi thủy sản và khắc phục tình trạng này, UBND Thành phố Hà Nội vừa triển khai Đề án bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021-2030, theo Quyết định số 911/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đề án này được thiết kế nhằm kiểm soát ô nhiễm, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học và giảm thiểu tác động từ biến đổi khí hậu.

Theo đó, Thành phố đặt mục tiêu nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh các mô hình nuôi trồng thân thiện, hướng tới sự phát triển bền vững trong ngành thủy sản. Đến năm 2030, Hà Nội kỳ vọng đạt được nhiều mục tiêu cụ thể như kiểm soát chặt chẽ nguồn ô nhiễm từ các hoạt động nuôi trồng, chế biến và khai thác thủy sản.

Đặc biệt, đề án phấn đấu chấm dứt việc sử dụng các loại hóa chất độc hại trong nuôi trồng, bảo đảm an toàn nguồn nước và ngăn ngừa suy thoái đa dạng sinh học. Thành phố cũng đặt mục tiêu xây dựng hệ thống quan trắc môi trường để tạo cơ sở dữ liệu về môi trường thủy sản, hỗ trợ quản lý hiệu quả và cảnh báo kịp thời.

Ngoài ra, 100% cán bộ, công chức và 80% doanh nghiệp, hộ nuôi trồng sẽ được tập huấn về pháp luật bảo vệ môi trường, trong khi diện tích nuôi trồng áp dụng quy trình VietGap tăng 8% mỗi năm, giúp thúc đẩy mô hình tuần hoàn, giảm thiểu xả thải.

Để thực hiện mục tiêu này, Hà Nội xây dựng một loạt nhiệm vụ và giải pháp cụ thể. Trước hết, thành phố sẽ hoàn thiện các cơ chế và chính sách về bảo vệ môi trường, nghiên cứu, bổ sung các chính sách, nhằm khuyến khích doanh nghiệp và hộ gia đình áp dụng mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Hoạt động tuyên truyền sẽ được tăng cường để giúp các tổ chức, cá nhân trong ngành thủy sản nhận thức rõ ràng về vai trò tiên quyết của môi trường đối với sự phát triển bền vững. Các hội nghị, hội thảo và tập huấn sẽ diễn ra định kỳ, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức cộng đồng.

Đề án tập trung vào việc đánh giá và quản lý nguồn thải từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Thành phố sẽ đánh giá hiện trạng nguồn thải, đưa ra giải pháp quản lý phù hợp và triển khai các mô hình nuôi trồng hữu cơ, tuần hoàn, tiết kiệm nước, hạn chế xả thải. Đây là những mô hình sản xuất thân thiện với môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh.

Hiện nay, nuôi trồng thủy sản đang trở thành một phần quan trọng của ngành công nghiệp thực phẩm, tuy nhiên, sự phát triển của ngành này kéo theo nhiều vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, việc áp dụng các giải pháp bảo vệ môi trường hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản là vô cùng cần thiết.

Hiện trạng ô nhiễm môi trường của ngành nuôi trồng thủy sản, sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản đã góp phần vào sự suy thoái môi trường và trở thành mối đe dọa tiềm ẩn đối với sự bền vững của ngành này. Việc mở rộng quy mô nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến việc chuyển đổi các khu vực rộng lớn, bao gồm cả rừng ngập mặn, thành các trang trại và ao nuôi, gây ra những thay đổi lớn trong hệ sinh thái và sử dụng đất.

Các phương pháp nuôi trồng thủy sản hiện nay thường tạo ra một lượng lớn chất thải, bao gồm nước thải và chất thải rắn, chứa nhiều loại phát thải khác nhau. Nước thải từ các trang trại thủy sản thường chứa nhiều chất dinh dưỡng dư thừa, chất hữu cơ, và các chất ô nhiễm khác, có thể gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh.

Để giải quyết vấn đề này, cần có sự chung tay của cả cộng đồng và chính phủ, thông qua việc áp dụng các biện pháp quản lý môi trường hiệu quả, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, và đầu tư vào công nghệ xử lý chất thải tiên tiến. Chỉ khi đó, ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam mới có thể phát triển bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Đây là một bước đi quan trọng để đảm bảo sự phát triển kinh tế không đi kèm với cái giá phải trả là sự suy thoái môi trường.

Theo Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 29/07/2022, Đề án bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021 - 2030 đã đặt ra những mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau:

* Kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm: Mục tiêu này nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ chất thải và hóa chất đến môi trường nước, đất và không khí trong khu vực nuôi trồng và chế biến thủy sản.

* Phòng ngừa và giải quyết sự cố môi trường: Tăng cường khả năng ứng phó với các sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại, và các tình huống khẩn cấp khác để bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của chúng.

* Ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học: Thực hiện các biện pháp bảo tồn và phục hồi các loài thủy sinh quan trọng, đồng thời giảm thiểu các hoạt động gây hại cho hệ sinh thái.

* Kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh: Phát triển các mô hình sản xuất và kinh doanh thủy sản theo hướng bền vững, giảm lượng chất thải và tái sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả.

* Chấm dứt sử dụng hóa chất độc hại: Loại bỏ việc sử dụng các loại hóa chất cấm và giảm thiểu việc sử dụng các loại hóa chất khác có thể gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.

* Xử lý vấn đề môi trường: Cải thiện chất lượng môi trường trong các khu vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là việc xử lý nước thải và chất thải rắn.

* Quan trắc môi trường: Thiết lập và duy trì một hệ thống quan trắc môi trường chặt chẽ để theo dõi, đánh giá và quản lý tác động môi trường từ hoạt động thủy sản.

* Cơ sở dữ liệu môi trường thủy sản: Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về môi trường thủy sản tích hợp vào cơ sở dữ liệu của bộ, quốc gia, giúp cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho việc ra quyết định và quản lý.

* Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản: Thực hiện các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững các loài thủy sản, bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rạn san hô.

* Hoạt động bảo tồn, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; bảo vệ môi trường sống các loài thủy sinh, phục hồi hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi thủy sản (rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô…) được triển khai hiệu quả.

Những mục tiêu này đều hướng tới việc tạo ra một ngành thủy sản phát triển bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và đảm bảo nguồn lợi thủy sản cho các thế hệ tương lai. Đây là những bước đi quan trọng trong việc thực hiện cam kết về môi trường và phát triển kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Sỹ Tùng