Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang mở ra những định hướng quan trọng cho phát triển nông nghiệp bền vững, quản lý tài nguyên hiệu quả và bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới. Với đặc thù là địa phương có hệ sinh thái đa dạng, TP Huế đang chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm cụ thể hóa các mục tiêu của nghị quyết. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế, để làm rõ những tác động, giải pháp cũng như khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện tại địa phương.
PV: Nghị quyết 57 của Trung ương đặt ra nhiều định hướng mới trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Xin ông cho biết những nội dung nào của nghị quyết có tác động trực tiếp nhất đến ngành nông nghiệp và môi trường của TP Huế?
Ông Nguyễn Đình Đức:
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đưa ra nhiều định hướng quan trọng, có tác động trực tiếp và sâu sắc đến lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường. Trong đó, có thể nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Thứ nhất, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp thông minh, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, sinh thái và ứng dụng công nghệ cao. Đây là định hướng rất phù hợp với điều kiện thực tiễn của Huế, góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp từ nhỏ lẻ sang tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ hai, về công tác quản lý tài nguyên, Nghị quyết đặt ra yêu cầu Quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đối với Huế, địa phương có hệ sinh thái đa dạng, nội dung này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên gắn với phát triển kinh tế xanh; lồng ghép việc khai thác, sử dụng tài nguyên với bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên. Đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tài nguyên đất, nước, khoáng sản; hạn chế tình trạng khai thác trái phép, lãng phí tài nguyên. Việc ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý, giám sát tài nguyên được đẩy mạnh, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch thông tin và phục vụ tốt hơn cho công tác quy hoạch, phát triển của địa phương.
Thứ ba, Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong quản lý ngành. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ của ngành Nông nghiệp và Môi trường, phát triển nông nghiệp thông minh… sẽ là giải pháp then chốt giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực sản xuất.
Có thể khẳng định, các nội dung của Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo ra khuôn khổ định hướng rất rõ ràng, là cơ sở quan trọng để ngành Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
PV: Để triển khai Nghị quyết 57 hiệu quả, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Huế đã và đang xây dựng những chương trình, giải pháp cụ thể nào, đặc biệt trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp xanh?
Ông Nguyễn Đình Đức:
Để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành đã chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện đồng bộ nhiều chương trình, giải pháp trọng tâm, tập trung vào các lĩnh vực quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp xanh.
Quản lý tài nguyên theo hướng số hóa, hiện đại: Đẩy mạnh xây dựng và làm giàu cơ sở dữ liệu đất đai, hoàn thành gắn mã định danh cho hơn 1,1 triệu thửa đất; đảm bảo 100% thủ tục đất đai thực hiện trên môi trường điện tử; Số hóa dữ liệu rừng, quản lý bằng GIS, ứng dụng ảnh viễn thám, thiết bị bay không người lái để giám sát tài nguyên rừng; Xây dựng hệ thống dữ liệu thủy lợi, thiên tai theo thời gian thực, tích hợp trên nền tảng số phục vụ điều hành và cảnh báo…
Tập trung ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Xây dựng hệ thống quản lý nguồn thải, vận hành phần mềm quan trắc môi trường tự động (Envisoft), theo dõi 29 trạm quan trắc trên địa bàn; Triển khai phần mềm giám sát thu gom, vận chuyển rác thải, công khai, cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân về điểm thu gom, lịch thu gom, hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thông qua các ứng dụng web, di động.
Đối với phát triển nông nghiệp, Sở định hướng thúc đẩy nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh thông qua việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất như tự động hóa, thiết bị bay không người lái, công nghệ IoT; đồng thời phát triển các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, gắn với chuyển đổi số trong tiêu thụ nông sản và phát triển các sản phẩm OCOP; xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt với các giải pháp về ứng dụng công nghệ số, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp chính xác để tối ưu hóa quản lý nước, phân bón và giám sát phát thải trong trồng trọt, đồng thời quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và thống kê sản lượng giảm phát thải...
Song song với đó, Sở cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, xây dựng chính quyền số, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
PV: Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 tại địa phương, ngành nông nghiệp và môi trường của TP Huế đang gặp những khó khăn, thách thức gì và Sở có kiến nghị gì với Trung ương hoặc tỉnh để việc thực hiện nghị quyết đạt hiệu quả cao hơn?
Ông Nguyễn Đình Đức:
Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại địa phương, ngành Nông nghiệp và Môi trường thành phố Huế vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khan và thách thức:
Trước hết, hạ tầng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đặc biệt tại khu vực nông thôn còn yếu, chưa đồng bộ; trình độ và kỹ năng số của người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tiếp cận và ứng dụng các mô hình mới. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu chuyên ngành còn phân tán, chưa được số hóa đồng bộ, gây khó khăn trong công tác quản lý, khai thác và chia sẻ thông tin.
Ngoài ra, nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, bảo vệ môi trường còn hạn chế; chi phí đầu tư lớn trong khi khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp còn khó khăn (không đủ điều kiện hoặc chưa mạnh dạng đầu tư). Đồng thời, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa hoàn thiện; nhân lực phục vụ chuyển đổi số còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Để việc triển khai Nghị quyết đạt hiệu quả cao hơn, Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Trung ương và địa phương tiếp tục quan tâm, hỗ trợ bố trí nguồn lực đầu tư cho hạ tầng số, trang thiết bị và các nền tảng công nghệ phục vụ chuyển đổi số toàn ngành. Đồng thời, đề nghị tăng cường hướng dẫn, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và thúc đẩy số hóa dữ liệu chuyên ngành một cách đồng bộ.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp xanh; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn mới.
PV: Xin cảm ơn ông!