Có một mùi hương chỉ cần thoảng qua là biết Tết đã về ngoài hiên. Đó là mùi trầm. Không nồng gắt, không phô trương, chỉ âm thầm len lỏi trong gian nhà, quyện vào sắc xuân khiến lòng người rạo rực...
Người xưa vẫn bảo, nơi nào có hương trầm tỏa khói, nơi ấy có tài lộc và sự an yên ghé thăm. Bởi thế mà mỗi dịp xuân về, trên bàn thờ gia tiên của bao gia đình Việt, đặc biệt là người xứ Nghệ, luôn có vài nén trầm được châm lên trong khoảnh khắc giao thừa và trong những ngày Tết, không chỉ để thơm nhà, mà còn để gọi về cảm giác sum vầy, ấm cúng.
Có lẽ cũng vì thứ hương thơm ấy mà từ bao đời nay, trầm hương vẫn đi vào thi ca. Nhà thơ Lý Bạch từng mượn mùi trầm để gợi tả vẻ đẹp mơ hồ của núi rừng, như thể giữa thăm thẳm đất trời, hương thơm ấy chính là sợi dây nối con người với cõi thanh sạch “giữa núi rừng thăm thẳm, hương trầm tỏa ngát, như lời thì thầm của đất trời, đưa ta vào cõi mơ mộng”.
Nhắc đến hương trầm ở miền Tây xứ Nghệ, nhiều người nghĩ ngay đến làng nghề Quỳ Châu, thuộc xã Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hơn 40 năm nay, nơi đây lặng lẽ giữ lửa cho một nghề tưởng chừng mộc mạc mà lại góp phần làm nên cái hồn ngày Tết.
Những ngày này, cả làng như khoác lên mình tấm áo mới. Trên các khoảng sân trước nhà, hương được phơi đỏ rực, xếp thành từng dải dài tăm tắp. Màu đỏ ấy nổi bật giữa nền trời hanh hao cuối đông, nhìn xa cứ như những thảm hoa đang nở.
Gần 100 hộ làm hương ở Quỳ Châu và các xã lân cận như Châu Bình, Châu Tiến vào vụ là tất bật từ sớm đến khuya. Hương là mặt hàng theo mùa, nhưng mùa ấy lại quyết định cả năm no đủ. Bình quân mỗi năm làng nghề xuất ra 80–100 triệu que, đưa doanh thu toàn làng nghề lên khoảng 30 tỷ đồng. Con số nghe có vẻ khô khan, nhưng phía sau đó là công ăn việc làm ổn định cho hàng trăm lao động địa phương, là những khoản thu nhập đủ để nhiều gia đình sửa sang nhà cửa, lo cho con cái học hành.
Điều khiến hương trầm Quỳ Châu được tin dùng lại nằm ở cách làm rất “người”. Nguyên liệu như rễ hương, quế quỳ, hoa hồi, thảo quả… được phối trộn theo kinh nghiệm truyền lại qua nhiều thế hệ. Không hóa chất tạo mùi, không pha tạp cầu kỳ. Thân hương làm từ tre lồ ô, chẻ nhỏ, ngâm kỹ. Một nén hương đạt chuẩn phải bén lửa nhanh, cháy đều, tàn cong tự nhiên và mùi thơm dịu nhẹ, không gắt cổ.
Ngoài hương cuốn giấy truyền thống, người dân còn làm thêm hương nụ, hương thẻ đủ kích cỡ, có loại dài tới 2 mét, phục vụ đình chùa, miếu mạo. Từ những sân phơi ở Quỳ Châu, hương đã theo xe đi khắp các tỉnh thành, thậm chí sang một số nước châu Á và những nơi có cộng đồng người Việt sinh sống.
Làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống, có tem nhãn, bao bì theo quy chuẩn. Nhiều cơ sở quy mô lớn tạo việc làm thường xuyên cho 20–25 lao động, thu nhập ổn định vào mùa cao điểm, người làm thời vụ cũng có thể kiếm từ 300 đến 350 nghìn mỗi ngày, đây là khoản tiền đáng kể ở vùng miền núi cao xứ Nghệ.
Dẫu vậy, để hương trầm Quỳ Châu đi xa hơn nữa, câu chuyện không chỉ dừng lại ở sản lượng. Việc chuẩn hóa quy trình, nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu bài bản vẫn là chặng đường phía trước. Nhưng nhìn những dải hương đỏ thắm hong mình trong nắng cuối năm, người ta có quyền tin rằng, chừng nào còn có khói trầm bay lên trong những ngày Tết, chừng đó làng nghề này vẫn còn giữ được nhịp thở riêng của mình.
Và trong làn khói mỏng bảng lảng ấy, Tết dường như đã về...!