Kết nối cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường: Thúc đẩy tăng tốc kiến tạo quốc gia số

Kết nối cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường: Thúc đẩy tăng tốc kiến tạo quốc gia số

Thứ sáu, 1/5/2026, 07:00 (GMT+7)
logo Trong giai đoạn mới của kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành tài nguyên, tư liệu sản xuất quan trọng, năng lượng mới, là mạch máu của nền kinh tế số. Trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã và đang quyết liệt triển khai nhiều nhiệm vụ khó, tồn đọng kéo dài như xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cũng như hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản.

social-media_1777391667.jpg

Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ và kích hoạt kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia (C12). Hoạt động này mở ra bước phát triển mới trong tiến trình chuyển đổi số của ngành Nông nghiệp và Môi trường.

2_1777391385.jpg
Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ về việc kết nối dữ liệu

Để có hoạt động kết nối này, trước đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu đa ngành, quy mô lớn. Bộ đã quyết liệt triển khai nhiều nhiệm vụ khó, tồn đọng kéo dài như xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cũng như hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản.

Kết quả này cho thấy hiệu quả của chiến dịch 90 ngày đêm làm sạch dữ liệu đất đai, với việc rà soát, hoàn thiện dữ liệu của hơn 62,2 triệu thửa đất; đối soát dữ liệu của hơn 82.000 tàu cá... Cùng với đó, 12 cơ sở dữ liệu trọng điểm cũng đã được rà soát, đánh giá và hoàn thiện từ đầu năm 2026 đến nay.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản từ tháng 12/2025, thí điểm với sản phẩm sầu riêng; qua đó từng bước mở rộng sang các nhóm sản phẩm khác như: lúa gạo, thịt, trứng, sữa, trái cây, chè, cà phê,… Dự kiến từ ngày 1/7/2026 sẽ triển khai đồng bộ đối với nông sản thực phẩm trên phạm vi cả nước.

Việc hoàn thiện kết nối cơ sở dữ liệu cùng với triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc đã mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường từ Trung ương đến địa phương; đồng thời hỗ trợ tích cực cho người dân, doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh và tiếp cận dịch vụ công.

Đánh giá về cột mốc này ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đây là kết quả bước đầu, tất cả các dữ liệu sau này đều đảm bảo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung". Điều quan trọng là dữ liệu này được chia sẻ cho các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan doanh nghiệp và người dân có thể sử dụng. Người dân, doanh nghiệp thấy được hiệu quả của cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành.

“Khi dữ liệu của ngành nông nghiệp và môi trường được kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì thay đổi lớn nhất là việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến ngành sẽ có sự thay đổi. Trước đây đi xin photo - công chứng để có được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, thì nay cơ quan thẩm quyền có đầy đủ cơ sở dữ liệu, người dân và doanh nghiệp sẽ không thực hiện việc đó nữa”, ông Nguyễn Văn Long nhấn mạnh.

social-media_1777390932.jpg

Thực tế cho thấy, Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia (được quản lý bởi Bộ Công an) đóng vai trò là "trụ cột dữ liệu" chính, tập hợp, tích hợp thông tin từ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, là nền tảng cốt lõi để phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Khi dữ liệu của ngành nông nghiệp và môi trường được đồng bộ với hệ thống chung, việc chia sẻ thông tin giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương sẽ trở nên thông suốt, hiệu quả. Nhờ đó, dữ liệu không còn bị phân tán như trước, mà được liên thông, thống nhất trên cùng một nền tảng.

Sự đồng bộ này không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng dữ liệu, mà còn góp phần tối ưu hóa nguồn lực đầu tư, tránh trùng lặp, lãng phí, tạo nền tảng cho quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu một cách hiện đại và minh bạch.

1_1777391020.jpg
Dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường đã và đang trở thành nền tảng quan trọng trong chuyển đổi số quốc gia, đóng góp cho "trái tim số" của Chính phủ điện tử

Hệ thống dữ liệu của ngành được cập nhật liên tục, tạo nền tảng thông tin đầy đủ, kịp thời cho cơ quan quản lý trong công tác chỉ đạo, điều hành. Trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, việc nắm bắt kịp thời biến động về giống, sản lượng, thị trường và dịch bệnh giúp cơ quan quản lý chủ động đưa ra các giải pháp phù hợp, hạn chế tình trạng “được mùa, mất giá”.

Trên cơ sở đó, công tác định hướng thị trường, quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc được thực hiện hiệu quả hơn, góp phần nâng cao giá trị nông sản và tính minh bạch của chuỗi cung ứng.

Việc nắm bắt đầy đủ năng lực sản xuất và nhu cầu tiêu thụ thực tế của thị trường giúp cơ quan quản lý chủ động điều hành, cân đối cung - cầu. Đặc biệt, hệ thống truy xuất nguồn gốc cho phép theo dõi toàn bộ hành trình của sản phẩm, từ khâu sản xuất đến lưu thông và tiêu dùng, qua đó nhận diện rõ mức độ tiếp nhận của thị trường.

Khi phát sinh vấn đề về chất lượng, các dữ liệu này giúp nhanh chóng xác định nguyên nhân, truy vết nguồn gốc và đưa ra biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

Theo Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, việc kết nối 12 cơ sở dữ liệu là nền tảng quan trọng để thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản. Trên cơ sở đó, hệ thống sẽ cung cấp thông tin đầy đủ về từng ngành hàng, giúp người sản xuất nắm bắt nhu cầu thị trường, định hướng đầu ra phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Đồng thời, người tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin minh bạch về chất lượng, mức độ an toàn và nguồn gốc sản phẩm, qua đó yên tâm lựa chọn những sản phẩm có địa chỉ tin cậy, đã được kiểm soát bởi cơ quan có thẩm quyền.

Tuy nhiên, để dữ liệu thật sự sống và là mạch máu của nền kinh tế số, ông Nguyễn Văn Long lưu ý rằng người sản xuất, doanh nghiệp phải làm ra những sản phẩm đạt chất lượng, an toàn thực phẩm cũng như có đầy đủ thông tin về nguồn gốc để tham gia vào cơ sở dữ liệu ngành. Để hệ thống cơ sở dữ liệu thực sự “sống”, sự tham gia chủ động của người dân và doanh nghiệp giữ vai trò quyết định.

“Người dân và doanh nghiệp cũng cần có hệ thống ghi chép quản lý thông tin về quá trình sản xuất, chúng ta đưa vào hệ thống để kết nối liên thông, để tạo ra nền tảng dùng chung cho cả xã hội. Điều này quay trở lại phục vụ cho chính chúng ta. Phục vụ cho chính khách hàng của cá nhân, tổ chức đó, để họ biết được chất lượng sản phẩm. Việc ứng dụng cơ sở dữ liệu này cũng thúc đẩy người dân và doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động, giúp tăng năng suất, tăng chất lượng, giảm giá thành. Yêu cầu về công nghệ đưa vào trong sản xuất là rất lớn”, ông Nguyễn Văn Long nhấn mạnh.

Có thể khẳng định, cơ sở dữ liệu ngành Nông nghiệp và Môi trường sau khi được kết nối không chỉ là công cụ quản lý mà còn là động lực thúc đẩy kinh tế số, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Với những lợi ích kinh tế rõ rệt, sự tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp, cùng các mục tiêu chiến lược trong tương lai, cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường khẳng định vai trò quan trọng trong tiến trình xây dựng một quốc gia số, hiện đại và bền vững.

 

Lê Tâm