news
Kỳ 1: Dữ liệu đất đai quốc gia - nền móng của một phương thức quản trị mới

Kỳ 1: Dữ liệu đất đai quốc gia - nền móng của một phương thức quản trị mới

Thứ năm, 25/6/2026, 05:41 (GMT+7)
logo Không chỉ là việc số hóa những trang hồ sơ địa chính vốn được lưu giữ qua nhiều thời kỳ, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đang trở thành một nhiệm vụ chính trị, pháp lý và kỹ thuật có ý nghĩa nền tảng đối với quản trị quốc gia. Khi dữ liệu đất đai được chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật thường xuyên và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, quản lý đất đai sẽ chuyển từ phương thức hành chính dựa nhiều vào giấy tờ sang phương thức quản trị số, minh bạch hơn, phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
z7697378196248_930e9364128b4c8c980ffff476192745-1715_1782116959.webp
Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an đã ký kết biên bản ghi nhớ và bấm nút kích hoạt kết nối, đồng bộ dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường với cơ sở dữ liệu tổng hợp Quốc gia.

Từ hồ sơ giấy đến dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống”

Trong nhiều năm, một trong những điểm nghẽn lớn của quản lý đất đai là dữ liệu phân tán, chưa đồng bộ, được hình thành qua nhiều giai đoạn, nhiều hệ thống kỹ thuật và nhiều cách quản lý khác nhau. Ở không ít địa phương, hồ sơ địa chính vẫn phụ thuộc nhiều vào bản giấy; dữ liệu số nếu có lại chưa được cập nhật đầy đủ biến động về quyền sử dụng đất, chủ sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc các thông tin pháp lý liên quan. Điều đó khiến thủ tục hành chính về đất đai thường kéo dài, người dân phải bổ sung nhiều loại giấy tờ, còn cơ quan quản lý gặp khó trong khai thác, đối chiếu và kiểm chứng thông tin.

Bởi vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai không thể chỉ được nhìn như một dự án công nghệ thông tin. Đây là quá trình thiết lập lại nền tảng quản lý một trong những nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia. Đất đai gắn với quyền tài sản của người dân, chi phí đầu vào của doanh nghiệp, quy hoạch phát triển, thu ngân sách, thị trường bất động sản, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và cả ổn định xã hội. Một hệ thống dữ liệu đất đai chính xác, đầy đủ và có khả năng khai thác theo thời gian thực vì thế sẽ tạo ra thay đổi căn bản trong phương thức quản lý nhà nước.

Theo Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Luật Đất đai năm 2024 đã có những điểm mới quan trọng về hệ thống thông tin quốc gia về đất đai và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Luật sử dụng thuật ngữ “Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai” và “Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”, thay cho cách gọi trước đây là “Hệ thống thông tin đất đai” và “Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia”. Sự thay đổi này không đơn thuần là kỹ thuật lập pháp, mà phản ánh yêu cầu xây dựng một hệ thống tập trung, thống nhất, đồng bộ và kết nối liên thông trên phạm vi cả nước.

Theo Luật Đất đai năm 2024, hệ thống thông tin quốc gia về đất đai là hệ thống tổng hợp hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm và dữ liệu được xây dựng thành một hệ thống tập trung, thống nhất để quản lý, vận hành, cập nhật, khai thác thông tin đất đai. Mục tiêu của hệ thống là phục vụ quản lý nhà nước về đất đai, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai; đồng thời kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương, tạo nền tảng phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Điểm đáng chú ý là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai không chỉ bao gồm dữ liệu địa chính. Theo quy định mới, hệ thống này còn bao gồm dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật đất đai; điều tra, đánh giá, bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thống kê, kiểm kê đất đai; thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và các dữ liệu khác liên quan đến đất đai. Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu đất đai không còn là “kho lưu trữ” phục vụ riêng nghiệp vụ địa chính, mà là một cấu phần của hạ tầng dữ liệu quốc gia.

Trong quá trình triển khai, tiêu chí được nhấn mạnh nhiều lần là dữ liệu phải “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”. Đây không chỉ là khẩu hiệu kỹ thuật, mà là yêu cầu quản trị. “Đúng” là phản ánh chính xác hiện trạng pháp lý và thực tế sử dụng đất; “đủ” là có đủ các trường thông tin cần thiết để quản lý và giải quyết thủ tục; “sạch” là loại bỏ trùng lặp, sai lệch, thiếu nhất quán; “sống” là được cập nhật thường xuyên khi có biến động; “thống nhất - dùng chung” là bảo đảm các cấp, các ngành có thể cùng khai thác trên một nền tảng dữ liệu được chuẩn hóa, thay vì mỗi nơi một hệ thống, mỗi nơi một cách hiểu.

Tại hội nghị hướng dẫn kỹ thuật triển khai Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA và phổ biến Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT, ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng dữ liệu đất đai theo tinh thần “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”. Đây là điểm mấu chốt, bởi trọng tâm của quá trình số hóa hiện nay không chỉ là “có dữ liệu”, mà là dữ liệu phải đạt chuẩn, khai thác được, phục vụ được cho quản lý nhà nước và dịch vụ công.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT cùng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật kèm theo, quy định đồng bộ các quy trình từ đo đạc, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính đến xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu. Theo Cục Quản lý đất đai, điểm quan trọng của hướng dẫn kỹ thuật là lồng ghép các công đoạn nghiệp vụ, tránh tình trạng đo đạc, đăng ký, lập hồ sơ và xây dựng dữ liệu tách rời nhau, gây trùng lặp, lãng phí nguồn lực và khó bảo đảm tính thống nhất.

Hướng dẫn kỹ thuật cũng phân dữ liệu đất đai thành ba nhóm để tổ chức thực hiện. Nhóm thứ nhất là dữ liệu đã đạt chuẩn “đúng - đủ - sạch - sống”, được duy trì và cập nhật theo thời gian thực. Nhóm thứ hai là dữ liệu đã có nhưng chưa hoàn thiện, phải rà soát, làm sạch, đối soát với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Nhóm thứ ba là khu vực chưa có dữ liệu, cần tổ chức đo đạc, lập hồ sơ, xây dựng mới. Cách phân loại này giúp các địa phương không làm dàn trải, mà tập trung nguồn lực vào từng nhóm việc cụ thể, vừa bảo đảm tiến độ, vừa kiểm soát chất lượng.

030923-top10-bds-4-20230317152843_1782116389.jpg
ảnh minh hoạ

Tăng tốc năm 2026: 64,4 triệu thửa đất đã được số hóa

Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra yêu cầu khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng, xác định rõ yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ trong năm 2026, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện.

Để cụ thể hóa nhiệm vụ này, ngày 29/3/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an ban hành Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA về tăng cường, đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Theo Cục Quản lý đất đai, Kế hoạch số 2959 là căn cứ để tổ chức triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trên phạm vi toàn quốc, xác định rõ mục tiêu, lộ trình và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương.

Sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Công an trong nhiệm vụ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm chuyên môn về đất đai, thì Bộ Công an có vai trò then chốt trong kết nối, đối khớp, xác thực dữ liệu đất đai với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc xác thực thông tin người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất với dữ liệu dân cư sẽ góp phần giảm sai lệch, loại bỏ trùng lặp, đồng thời tạo nền tảng để cắt giảm giấy tờ trong các thủ tục hành chính đất đai.

Những con số cập nhật đến giữa tháng 6/2026 cho thấy, tiến độ đang được đẩy nhanh. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 15/6/2026, cả nước đã xây dựng dữ liệu cho 64,4 triệu trên tổng số 102,5 triệu thửa đất, đạt 63%. Trong số này, 28,8 triệu thửa đất đã đạt trạng thái “đúng - đủ - sạch - sống”, tương đương khoảng 44% số thửa đã có dữ liệu. Đây là kết quả quan trọng, nhất là trong bối cảnh dữ liệu đất đai được hình thành qua nhiều thời kỳ, nhiều loại hồ sơ, nhiều chuẩn kỹ thuật và nhiều phương thức quản lý khác nhau.

Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hơn 87 triệu lượt dữ liệu liên quan tới 62,5 triệu thửa đất đã được đối khớp, xác thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đây là bước tiến có ý nghĩa nền tảng, bởi thông tin về người sử dụng đất nếu không được đối soát với dữ liệu dân cư sẽ khó bảo đảm độ tin cậy khi đưa vào khai thác. Việc kết nối, xác thực này cũng mở ra khả năng giảm giấy tờ trong giải quyết thủ tục hành chính đất đai, bởi nhiều thông tin cá nhân mà trước đây người dân phải tự khai, tự nộp, tự chứng minh có thể được cơ quan nhà nước kiểm tra, xác thực trực tuyến.

Tại địa phương, cả 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành bốn nhiệm vụ nền tảng, gồm thành lập ban chỉ đạo, xây dựng kế hoạch chi tiết, triển khai truyền thông và rà soát, phân loại dữ liệu. Một số địa phương có tiến độ nổi bật gồm TP. Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Tây Ninh và Thanh Hóa. Các địa phương có tỷ lệ dữ liệu đạt chuẩn cao gồm Đồng Nai, Huế và Đồng Tháp. Về đồng bộ dữ liệu lên trung ương, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với 4,2 triệu thửa đất; tiếp theo là Thái Nguyên với 3,3 triệu thửa, Gia Lai 3,1 triệu và Đồng Nai 2,8 triệu thửa đất.

Các kết quả này cho thấy, khi địa phương có quyết tâm chính trị, có phương án kỹ thuật phù hợp và có cơ chế phối hợp giữa cơ quan đất đai, công an, tài chính, tư pháp, chính quyền cơ sở, tiến độ hoàn thiện dữ liệu có thể được thúc đẩy rõ rệt. Trong thực tế, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ là nhập thông tin lên phần mềm, mà còn là quá trình rà soát hồ sơ, chỉnh lý bản đồ, chuẩn hóa thông tin thửa đất, đối soát chủ sử dụng, kiểm tra tính pháp lý và bảo đảm dữ liệu có thể vận hành.

Tuy nhiên, bức tranh dữ liệu đất đai quốc gia vẫn còn những thách thức rất lớn. Cả nước vẫn còn khoảng 38,1 triệu thửa đất chưa có dữ liệu, chiếm 37% tổng số thửa đất. Khối lượng này tập trung ở nhiều địa phương có quy mô lớn, địa bàn rộng, lịch sử quản lý hồ sơ phức tạp hoặc còn thiếu bản đồ địa chính chính quy. Bên cạnh đó, trong số các thửa đã có dữ liệu, vẫn còn khoảng 35,6 triệu dữ liệu thửa đất chưa đạt chuẩn “đúng - đủ - sạch - sống”. Nguyên nhân chủ yếu là dữ liệu được hình thành qua nhiều thời kỳ, chưa cập nhật theo tiêu chuẩn kỹ thuật mới, thiếu thông tin người sử dụng đất hoặc chưa phản ánh đầy đủ biến động về quyền sử dụng đất.

Bài toán nguồn lực cũng không nhỏ. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, có tới 18 trong số 34 địa phương đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ, với tổng nhu cầu gần 15.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ là yêu cầu về phần mềm hay hạ tầng công nghệ thông tin, mà còn gắn với đo đạc, chỉnh lý hồ sơ, rà soát thực địa, xác minh thông tin, chuẩn hóa dữ liệu, đào tạo nhân lực và bảo đảm hạ tầng vận hành. Với những địa phương còn nhiều khu vực chưa có bản đồ địa chính, hoặc dữ liệu giấy tờ qua nhiều giai đoạn chưa thống nhất, khối lượng công việc có thể rất lớn.

Một thách thức khác là đồng bộ dữ liệu từ địa phương lên hệ thống quốc gia. Nhiều địa phương phải đồng bộ nhiều lần do dữ liệu chưa đạt chuẩn, trong khi việc truyền dữ liệu đồng thời có thể gây quá tải hệ thống. Mặc dù đã có 28,8 triệu thửa đất đạt chuẩn dữ liệu sống, đến thời điểm sơ kết mới có 1,06 triệu dữ liệu được đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia. Khoảng cách giữa “dữ liệu đã đạt chuẩn tại địa phương” và “dữ liệu đã được đồng bộ, khai thác ở cấp quốc gia” cho thấy yêu cầu tiếp theo không chỉ là làm sạch dữ liệu, mà còn phải hoàn thiện hạ tầng kết nối, quy trình kiểm tra, cơ chế chia sẻ, phân quyền khai thác và bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Nhìn từ yêu cầu quản trị, những con số này không chỉ phản ánh tiến độ kỹ thuật, mà còn cho thấy mức độ sẵn sàng của từng địa phương trong chuyển đổi phương thức quản lý đất đai. Địa phương nào làm tốt dữ liệu sẽ có điều kiện tốt hơn để cải cách thủ tục, công khai thông tin, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Ngược lại, nếu dữ liệu còn thiếu, sai lệch hoặc chưa được cập nhật, quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai sẽ khó đạt hiệu quả thực chất.

Không lùi tiến độ, không hạ chuẩn chất lượng

Điểm đáng chú ý trong chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường là yêu cầu tiến độ phải đi cùng chất lượng. Hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026 là mục tiêu rất cao, nhưng mục tiêu đó không thể được hiểu là làm nhanh bằng mọi giá. Nếu dữ liệu được tạo lập nhưng không đúng, không đủ, không sạch, không cập nhật, không kết nối được, hệ thống sẽ khó vận hành, thậm chí có thể làm phát sinh rủi ro mới trong quản lý và giải quyết thủ tục hành chính.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị sơ kết thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg và Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh việc hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế số, xã hội số và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển đất nước. Dẫn lại yêu cầu phải hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026, Phó Thủ tướng khẳng định “không có lý do để lùi tiến độ”.

2aoboqdvsksvd0mbtjb72nnpbm7lklvamxmvafak4-17816090563561403983427_1782117183.jpg

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp ngày 16/6 về Hội nghị sơ kết Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an về công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Thông điệp quan trọng hơn là yêu cầu không đánh đổi chất lượng. Phó Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần “không lùi mục tiêu, không hạ chuẩn chất lượng”. Đây là chỉ đạo rất đáng chú ý, bởi trong chuyển đổi số, nguy cơ thường gặp là coi hoàn thành hệ thống, hoàn thành phần mềm hoặc hoàn thành nhập liệu như điểm kết thúc. Nhưng với dữ liệu đất đai, điểm kết thúc thực sự phải là khả năng khai thác.

Một thửa đất được số hóa nhưng thông tin chủ sử dụng sai, ranh giới chưa khớp, biến động chưa cập nhật, tài sản gắn liền với đất chưa đầy đủ, hoặc chưa kết nối được với dữ liệu dân cư, dữ liệu thuế, dữ liệu quy hoạch, thì vẫn chưa thể phục vụ hiệu quả cho quản lý và người dân. Vì vậy, cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi trả lời được ba câu hỏi lớn: dữ liệu có đủ tin cậy để cơ quan nhà nước sử dụng trong quản lý hay không; dữ liệu có đủ khả năng kết nối để người dân không phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có hay không; và dữ liệu có được cập nhật thường xuyên sau mỗi biến động hay không.

Đối với người dân, giá trị cuối cùng của cơ sở dữ liệu đất đai không nằm ở thuật ngữ kỹ thuật, mà ở trải nghiệm thủ tục. Khi dữ liệu đất đai được kết nối với dữ liệu dân cư, nhiều thông tin nhân thân có thể được xác thực tự động. Khi dữ liệu thửa đất được chuẩn hóa, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có thể kiểm tra thông tin pháp lý nhanh hơn. Khi dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, thống kê, kiểm kê được cập nhật đồng bộ, người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin minh bạch hơn, giảm chi phí tìm kiếm, giảm rủi ro trong giao dịch và đầu tư.

Đối với chính quyền, cơ sở dữ liệu đất đai là công cụ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Một nền dữ liệu thống nhất giúp hạn chế tình trạng thông tin không đồng nhất giữa các cấp, giữa bản đồ và hồ sơ, giữa hồ sơ giấy và dữ liệu số, giữa dữ liệu địa chính và dữ liệu dân cư. Khi dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực, công tác thống kê, kiểm kê, lập quy hoạch, theo dõi biến động, xác định nghĩa vụ tài chính, kiểm soát sử dụng đất, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo cũng có điều kiện chuyển sang phương thức chủ động hơn.

Đối với thị trường, dữ liệu đất đai minh bạch là nền tảng quan trọng để giảm bất cân xứng thông tin. Một thị trường bất động sản lành mạnh cần thông tin rõ ràng về pháp lý thửa đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hạn chế giao dịch, nghĩa vụ tài chính và các yếu tố liên quan. Khi dữ liệu phân tán, thiếu cập nhật hoặc khó tiếp cận, chi phí giao dịch tăng lên, rủi ro pháp lý lớn hơn, còn cơ hội cho đầu cơ, thổi giá, lợi dụng khoảng trống thông tin cũng nhiều hơn. Ngược lại, khi dữ liệu được chuẩn hóa và công khai theo đúng quy định, thị trường có thêm nền tảng để vận hành minh bạch, ổn định và bền vững hơn.

Tuy nhiên, để dữ liệu đất đai thực sự “sống”, không thể chỉ trông chờ vào một chiến dịch cao điểm. Chiến dịch có thể tạo bước đột phá ban đầu, nhưng duy trì chất lượng dữ liệu mới là thách thức dài hạn. Sau khi hoàn thành đo đạc, số hóa, đối soát và đồng bộ, mỗi biến động về chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, thay đổi mục đích sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư đều phải được cập nhật kịp thời vào hệ thống. Nếu không, dữ liệu sẽ nhanh chóng lỗi thời và quay trở lại tình trạng “số hóa xong rồi để đó”.

Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong quy trình nghiệp vụ của ngành đất đai. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp xã, đơn vị đo đạc, cơ quan thuế, tư pháp, công an và các đơn vị liên quan phải vận hành trên cùng một logic dữ liệu. Mỗi thủ tục phát sinh phải đồng thời là một lần cập nhật dữ liệu. Mỗi hồ sơ được giải quyết phải để lại dấu vết số. Mỗi thông tin đã được cơ quan nhà nước xác thực phải được tái sử dụng trong phạm vi pháp luật cho phép, thay vì yêu cầu người dân nộp lại.

Từ góc nhìn này, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là bước một của cải cách. Bước hai, cũng là nội dung sẽ quyết định hiệu quả thực chất, là tái cấu trúc thủ tục hành chính đất đai dựa trên dữ liệu đã có. Nếu dữ liệu đã được làm sạch nhưng thủ tục vẫn yêu cầu người dân nộp lại bản sao giấy tờ; nếu cơ quan giải quyết hồ sơ vẫn xử lý theo luồng cũ; nếu phần mềm chưa cấu hình lại quy trình nghiệp vụ; nếu dữ liệu dân cư, dữ liệu thửa đất, dữ liệu chuyên ngành chưa được khai thác trực tiếp, thì chuyển đổi số mới chỉ dừng ở lớp vỏ kỹ thuật.

Theo tài liệu về tái cấu trúc thủ tục hành chính đất đai, đến ngày 15/6/2026 đã có 28/34 tỉnh, thành phố thực hiện tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai; tỷ lệ thủ tục hành chính được tái cấu trúc đạt 41,1% trên tổng số thủ tục lĩnh vực đất đai. Tổng số hồ sơ tiếp nhận trên môi trường điện tử đạt hơn 2,84 triệu hồ sơ, trong đó tỷ lệ hồ sơ được giải quyết thành công trên môi trường điện tử đạt 94,6%. Những con số này cho thấy dữ liệu đất đai đang bắt đầu đi vào quy trình phục vụ, nhưng cũng cho thấy còn nhiều dư địa để cải cách mạnh mẽ hơn.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai vì thế không phải là đích đến cuối cùng. Đích đến phải là một phương thức quản trị đất đai mới: dữ liệu thống nhất, thủ tục tinh gọn, trách nhiệm rõ ràng, người dân không phải mang giấy tờ đi chứng minh những thông tin Nhà nước đã có. Khi dữ liệu đất đai thực sự “đúng - đủ - sạch - sống”, cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai mới có nền tảng để chuyển từ lời hứa sang kết quả cụ thể.

Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trân trọng mời bạn đọc đón đọc Kỳ 2: Tái cấu trúc thủ tục đất đai - để người dân không phải “mang giấy đi chứng minh dữ liệu”.

 

Hồng Minh