news
Kỳ 1: Dữ liệu thay giấy tờ, 28 địa phương tái cấu trúc thủ tục đất đai

Kỳ 1: Dữ liệu thay giấy tờ, 28 địa phương tái cấu trúc thủ tục đất đai

Thứ hai, 6/7/2026, 06:47 (GMT+7)
logo Tái cấu trúc thủ tục hành chính về đất đai không chỉ là việc đưa hồ sơ lên môi trường điện tử, mà là quá trình thiết kế lại quy trình phục vụ trên nền dữ liệu. Khi 28/34 tỉnh, thành phố đã thực hiện tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục đất đai, hơn 2,84 triệu hồ sơ được tiếp nhận trên môi trường điện tử và 94,6% hồ sơ điện tử được giải quyết thành công, một phương thức quản trị mới đang từng bước hình thành: dữ liệu thay giấy tờ, quy trình vận hành theo dữ liệu, người dân và doanh nghiệp được phục vụ thuận tiện, minh bạch hơn.
z7842797179375_280ebe44fd24824b1caf6b14036bc1ee_1782978269.jpg
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa đồng chủ trì Hội nghị lấy ý kiến sơ kết Nghị quyết số 18-NQ/TW quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai

Từ cải cách thủ tục đến đổi mới phương thức phục vụ

Đất đai là lĩnh vực có số lượng hồ sơ lớn, tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân, hoạt động của doanh nghiệp và hiệu lực quản lý nhà nước. Một thủ tục cấp giấy chứng nhận, đăng ký biến động, tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất hay xác định nghĩa vụ tài chính không chỉ là một quy trình hành chính. Đằng sau mỗi hồ sơ là tài sản, sinh kế, quyền sử dụng đất, kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh và niềm tin của người dân đối với bộ máy công quyền.

Trong tiến trình chuyển đổi số, cải cách thủ tục đất đai đang được đặt trong yêu cầu cao hơn: không chỉ số hóa biểu mẫu, không chỉ tiếp nhận hồ sơ trên cổng dịch vụ công, mà phải tổ chức lại quy trình xử lý trên nền dữ liệu. Khi cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu thuế, dịch vụ công trực tuyến và các hệ thống chuyên ngành từng bước được kết nối, cơ quan nhà nước có thêm điều kiện để khai thác thông tin đã có, giảm giấy tờ, giảm thời gian xử lý và nâng cao chất lượng phục vụ.

Theo Cổng Thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến ngày 15/6/2026, đã có 28/34 tỉnh, thành phố thực hiện tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai. Tỷ lệ thủ tục hành chính được tái cấu trúc đạt 41,1% trên tổng số thủ tục lĩnh vực đất đai. Tổng số hồ sơ tiếp nhận trên môi trường điện tử đạt 2.842.194 hồ sơ, trong đó tỷ lệ hồ sơ được giải quyết thành công trên môi trường điện tử đạt 94,6%.

Những con số này cho thấy, cải cách thủ tục đất đai đã có chuyển động rõ nét ở cấp địa phương. Từ yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, các địa phương đang từng bước rà soát lại quy trình, thành phần hồ sơ, cách thức tiếp nhận, xử lý và trả kết quả. Đây là bước chuyển quan trọng để dữ liệu đất đai không chỉ nằm trong hệ thống kỹ thuật, mà trở thành công cụ phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp.

Điểm cốt lõi của tái cấu trúc là thay đổi cách thiết kế thủ tục. Thông tin nào đã có trong cơ sở dữ liệu thì cần được khai thác, sử dụng theo quy định; giấy tờ nào có thể thay thế bằng dữ liệu thì từng bước được cắt giảm; khâu nào có thể liên thông thì được tổ chức lại để giảm thời gian, giảm chi phí xã hội. Như vậy, cải cách thủ tục đất đai không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là đổi mới phương thức phục vụ trên nền dữ liệu.

Theo Cục Quản lý đất đai, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính về đất đai là yêu cầu bắt buộc để triển khai hiệu quả hệ thống dịch vụ công trực tuyến kết nối, khai thác trực tiếp từ cơ sở dữ liệu đất đai đã hoàn thiện. Việc kết nối dữ liệu cư trú, dữ liệu thửa đất đã số hóa và các cơ sở dữ liệu liên quan giúp bảo đảm hệ thống dữ liệu luôn “sống”, vận hành theo thời gian thực, qua đó nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai.

Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu đang trở thành nền tảng của cải cách hành chính. Trong mô hình truyền thống, mỗi thủ tục thường gắn với một tập hồ sơ. Trong mô hình quản trị số, mỗi thủ tục cần được tổ chức thành một luồng xử lý thông tin, trong đó dữ liệu được khai thác, xác thực, chia sẻ và cập nhật theo quy trình rõ trách nhiệm. Khi dữ liệu vận hành hiệu quả, người dân sẽ giảm bớt việc cung cấp lại các thông tin đã có; cán bộ có thêm công cụ để xử lý hồ sơ nhanh, chính xác và minh bạch hơn.

Năm 2026: tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia

Nền tảng chính sách cho tiến trình này được đặt ra rõ trong năm 2026. Ngày 13/02/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg về việc khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng, tạo cơ sở để các bộ, ngành, địa phương tập trung nguồn lực hoàn thiện hạ tầng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Trong bối cảnh pháp luật đất đai đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, văn bản này tạo thêm căn cứ để địa phương chủ động hoàn thiện trình tự, thủ tục hành chính về đất đai phù hợp với yêu cầu quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Theo báo cáo từ các địa phương được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, đến ngày 15/6/2026, Bắc Ninh và Ninh Bình đã ban hành quyết định quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai theo Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP. Các địa phương còn lại đang hoàn thiện dự thảo, gửi Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình UBND cấp tỉnh xem xét ban hành.

Đây là quá trình chuyển đổi đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan chuyên môn về đất đai, tư pháp, trung tâm phục vụ hành chính công, đơn vị công nghệ và chính quyền địa phương. Trong giai đoạn phân cấp, phân quyền mạnh hơn, việc xây dựng, công bố và cấu hình quy trình thủ tục hành chính cần vừa bảo đảm đúng quy định pháp luật, vừa phù hợp với hạ tầng số, dữ liệu và điều kiện tổ chức thực hiện ở từng địa phương.

Đến ngày 15/6/2026, cả 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành 4 nhiệm vụ nền tảng gồm thành lập ban chỉ đạo, xây dựng kế hoạch chi tiết, triển khai truyền thông và rà soát phân loại dữ liệu. Cũng tính đến thời điểm này, cả nước đã xây dựng dữ liệu cho 64,4 triệu trên tổng số 102,5 triệu thửa đất, đạt 63%. Trong số này, 28,8 triệu thửa đất đã đạt trạng thái “đúng - đủ - sạch - sống”, tương đương 44% số thửa đất đã có dữ liệu. Hơn 87 triệu lượt dữ liệu liên quan tới 62,5 triệu thửa đất đã được đối khớp, xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Những kết quả này cho thấy, khối lượng công việc rất lớn đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để tái cấu trúc thủ tục hành chính đất đai đi vào thực chất. Khi dữ liệu thửa đất, người sử dụng đất, giấy chứng nhận, dữ liệu dân cư và các thông tin liên quan được chuẩn hóa, kết nối, địa phương có thêm nền tảng để cắt giảm giấy tờ, liên thông quy trình và cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuận tiện hơn.

Bên cạnh kết quả đạt được, nhiệm vụ hoàn thiện dữ liệu đất đai vẫn còn khối lượng lớn cần tiếp tục triển khai. Theo Cục Quản lý đất đai, hiện còn khoảng 35,6 triệu dữ liệu thửa đất cần tiếp tục chuẩn hóa để đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”; cả nước còn 38,1 triệu thửa đất chưa có dữ liệu, chiếm 37% tổng số thửa đất. Nguyên nhân chủ yếu do dữ liệu được xây dựng qua nhiều giai đoạn, tiêu chuẩn kỹ thuật có sự thay đổi theo thời gian, một số thông tin người sử dụng đất và biến động quyền sử dụng đất cần tiếp tục được bổ sung, cập nhật.

Việc nêu rõ khối lượng còn lại không nhằm tạo áp lực về chỉ tiêu, mà để thấy tính chất phức tạp, lâu dài của xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Đây là lĩnh vực có lịch sử hồ sơ nhiều giai đoạn, biến động lớn, liên quan trực tiếp đến quyền tài sản của người dân và tổ chức. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là vừa bảo đảm tiến độ, vừa giữ vững chất lượng dữ liệu, để dữ liệu được tạo lập có thể khai thác ngay trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh quan điểm “không lùi mục tiêu, không hạ chuẩn chất lượng”; dữ liệu được tạo lập phải bảo đảm khai thác được ngay, phục vụ hiệu quả quản lý nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Đây là định hướng quan trọng để các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai gắn với cải cách thủ tục hành chính.

12320250527142810_1782978014.jpg
Cải cách thủ tục hành chính đất đai là việc cắt giảm và đơn giản hóa các bước làm giấy tờ nhà đất. Mục tiêu là giúp người dân đỡ tốn thời gian và chi phí đi lại. Việc này bao gồm bỏ các loại giấy tờ thừa, rút ngắn thời gian chờ đợi và chuyển sang làm việc trực tuyến.

Tái cấu trúc thủ tục: cầu nối giữa dữ liệu và dịch vụ công

Để cơ sở dữ liệu đất đai phát huy giá trị, dữ liệu phải được đưa vào quy trình phục vụ. Đây là lý do Cục Quản lý đất đai đã đôn đốc các Sở Nông nghiệp và Môi trường rà soát, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai để thay thế hoặc cắt giảm thành phần hồ sơ trong các thủ tục được thực hiện trên môi trường điện tử. Mục tiêu là đưa cơ sở dữ liệu đất đai vào quản lý, vận hành, khai thác hiệu quả, phục vụ quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai.

Mục tiêu đến hết năm 2026 là 100% thủ tục hành chính về đất đai đủ điều kiện được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Để đạt mục tiêu này, các địa phương cần rà soát, đánh giá và tái cấu trúc quy trình thủ tục trên cơ sở khai thác dữ liệu đất đai đã số hóa và thông tin tương ứng từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Đây là điểm khác biệt giữa số hóa thủ tục và tái cấu trúc thủ tục. Số hóa thủ tục là đưa một phần quy trình lên môi trường điện tử. Tái cấu trúc thủ tục là rà soát lại toàn bộ cách thức vận hành: thành phần hồ sơ nào có thể cắt giảm; thông tin nào có thể khai thác từ dữ liệu; khâu nào có thể liên thông; trách nhiệm xử lý của từng cơ quan ra sao; dữ liệu sau khi hồ sơ được giải quyết sẽ được cập nhật trở lại hệ thống như thế nào.

Quyết định số 441/QĐ-BNNMT ngày 02/02/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là một căn cứ cụ thể cho tinh thần này. Văn bản công bố và hướng dẫn kết nối để khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thay thế thành phần hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính. Khi dữ liệu về Giấy chứng nhận đủ điều kiện khai thác, cơ quan nhà nước có thể sử dụng thông tin trong hệ thống để giảm yêu cầu nộp lại giấy tờ, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc tái cấu trúc quy trình giúp cắt giảm thành phần hồ sơ giấy, tận dụng tối đa dữ liệu sẵn có từ cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống dữ liệu chuyên ngành khác. Nhiều thủ tục hành chính về đất đai hiện đã được thực hiện trực tuyến toàn trình; một số thủ tục được tinh gọn đáng kể về quy trình xử lý, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Như vậy, tái cấu trúc thủ tục chính là cầu nối giữa dữ liệu và dịch vụ công. Dữ liệu chỉ thật sự có ý nghĩa khi được khai thác trong giải quyết hồ sơ; dịch vụ công trực tuyến chỉ thật sự thuận tiện khi quy trình được thiết kế lại trên nền dữ liệu; còn cải cách hành chính chỉ thật sự đi vào đời sống khi người dân, doanh nghiệp cảm nhận được sự thay đổi trong từng thủ tục cụ thể.

Để hỗ trợ địa phương, Cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn số 2622/QLĐĐ-TKKKTTĐĐ hướng dẫn bổ sung một số nội dung kỹ thuật trong quá trình xây dựng, duy trì và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai tại các địa phương. Nội dung hướng dẫn tập trung vào đồng bộ dữ liệu phi cấu trúc, dữ liệu không gian và chuẩn hóa dữ liệu thuộc tính địa chính, trong đó có bản quét Giấy chứng nhận được ký số, hồ sơ đăng ký đất đai và các trường thông tin bắt buộc.

Việc ban hành hướng dẫn bổ sung cho thấy Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trực tiếp là Cục Quản lý đất đai, đang chủ động tháo gỡ các vấn đề phát sinh từ thực tiễn, hỗ trợ địa phương chuẩn hóa dữ liệu và bảo đảm điều kiện vận hành hệ thống. Đây là bước cần thiết để cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ được xây dựng về số lượng, mà còn bảo đảm chất lượng, khả năng khai thác và kết nối phục vụ quản lý nhà nước, dịch vụ công.

thuong-tru_1782978035.jpg
Việc ban hành Quyết định công bố thủ tục hành chính nội bộ trong lĩnh vực đất đai, góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống”: nền móng của cải cách thực chất

Trong lĩnh vực đất đai, chất lượng dữ liệu quyết định chất lượng cải cách. Một thủ tục có thể được cung cấp trực tuyến, nhưng nếu dữ liệu chưa đầy đủ, chưa được cập nhật hoặc chưa đồng bộ, quá trình xử lý hồ sơ vẫn có thể phải bổ sung thêm bước kiểm tra. Vì vậy, tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống” không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là nền móng để dịch vụ công đất đai vận hành ổn định, tin cậy.

“Đúng” là dữ liệu phản ánh chính xác thông tin pháp lý và hiện trạng quản lý. “Đủ” là bảo đảm các trường thông tin cần thiết cho xử lý hồ sơ. “Sạch” là giảm trùng lặp, sai lệch, không thống nhất giữa các nguồn dữ liệu. “Sống” là dữ liệu được cập nhật thường xuyên, gắn với biến động thực tế của thửa đất, người sử dụng đất và kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

Với lĩnh vực đất đai, dữ liệu “sống” đặc biệt quan trọng. Một thửa đất có thể phát sinh chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, giải chấp, tách thửa, hợp thửa, thay đổi tài sản gắn liền với đất, thay đổi thông tin người sử dụng đất. Mỗi biến động đó cần được cập nhật kịp thời để hồ sơ sau này được xử lý thuận lợi. Nếu dữ liệu được cập nhật thường xuyên, mỗi thủ tục giải quyết xong không chỉ tạo ra kết quả hành chính, mà còn làm giàu thêm cơ sở dữ liệu đất đai.

Theo Cục Quản lý đất đai, hơn 87 triệu lượt dữ liệu liên quan tới 62,5 triệu thửa đất đã được đối khớp, xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đây là bước quan trọng để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu, phục vụ mục tiêu giảm giấy tờ, giảm yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã được hệ thống xác thực.

Cùng với đó, việc đồng bộ dữ liệu phi cấu trúc, dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính địa chính được hướng dẫn cụ thể hơn. Đối với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận, dữ liệu đồng bộ từ địa phương lên Trung ương là bản quét Giấy chứng nhận đã được ký số. Với trường hợp đã đăng ký đất đai nhưng chưa hoặc không được cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ đồng bộ là bản quét thông báo xác nhận kết quả đăng ký đất đai hoặc đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận có xác nhận của cơ quan đăng ký và được ký số.

Những yêu cầu kỹ thuật này cho thấy cải cách thủ tục đất đai đang đi vào chiều sâu. Muốn người dân giảm giấy tờ, hệ thống phải có dữ liệu đủ tin cậy. Muốn dịch vụ công trực tuyến toàn trình, hồ sơ số phải có giá trị khai thác. Muốn cơ quan nhà nước xử lý trên môi trường điện tử, dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính, hồ sơ quét, thông tin Giấy chứng nhận và thông tin người sử dụng đất phải được chuẩn hóa, đồng bộ.

Ở đây, vai trò điều phối, hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường có ý nghĩa quan trọng. Cục Quản lý đất đai không chỉ tổng hợp tiến độ, mà còn ban hành hướng dẫn kỹ thuật, đôn đốc địa phương, đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ động nghiên cứu, phối hợp với các đơn vị liên quan để triển khai kịp thời các nội dung bổ sung. Mục tiêu cuối cùng là đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành chính.

1dat185_8759764a1b_1782978504.png
Tại Quảng Ninh, số thửa đất đạt tiêu chí “đúng-đủ-sạch-sống” tăng từ 2.579 thửa ngày 29/3/2026 lên 144.228 thửa vào ngày 5/5/2026, tăng hơn 55 lần chỉ sau hơn một tháng.                                                                                       Ảnh: Đỗ Phương.

Từ dữ liệu sạch đến niềm tin hành chính

Điểm đến cuối cùng của tái cấu trúc thủ tục đất đai không phải là một hệ thống phần mềm hiện đại hay một bảng chỉ tiêu đẹp. Điểm đến là sự thay đổi trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp. Người dân có bớt số lần đi lại không? Có bớt giấy tờ phải nộp không? Có theo dõi được hồ sơ của mình không? Có biết cơ quan nào đang xử lý, vướng ở khâu nào, bao giờ nhận kết quả không? Doanh nghiệp có giảm thời gian chuẩn bị hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính dự báo trong các thủ tục liên quan đến đất đai, đầu tư, sản xuất, kinh doanh không?

Những câu hỏi ấy cần trở thành thước đo thực chất của cải cách. Từ 28/34 địa phương đã tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai, có thể nhìn thấy một dấu chuyển quan trọng: quản lý đất đai đang từng bước chuyển từ quản lý bằng hồ sơ rời rạc sang quản trị bằng dữ liệu liên thông. Với một lĩnh vực có tác động lớn như đất đai, sự chuyển đổi này không chỉ giúp giảm phiền hà cho người dân, mà còn góp phần minh bạch hóa quá trình giải quyết thủ tục, kiểm soát trách nhiệm công vụ và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên.

Tuy nhiên, để dữ liệu thật sự thay giấy tờ, cần tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ: hoàn thiện dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống; tái cấu trúc quy trình thực chất; cấu hình phần mềm phù hợp nghiệp vụ; tập huấn, hỗ trợ cán bộ cơ sở; bảo đảm liên thông giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tư pháp, Trung tâm Phục vụ hành chính công, cơ quan thuế, công an, công chứng, văn phòng đăng ký đất đai và chính quyền cấp xã.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng khuyến nghị các địa phương tham khảo kinh nghiệm từ Bắc Ninh và Ninh Bình, hai địa phương đã hoàn thành việc ban hành thủ tục hành chính đất đai; đồng thời yêu cầu các đơn vị cung cấp phần mềm tham gia hỗ trợ cấu hình quy trình ngay trong quá trình xây dựng thủ tục, bảo đảm đồng bộ giữa quy trình nghiệp vụ và hạ tầng số.

Đây là hướng đi cần thiết để quá trình tái cấu trúc được triển khai thống nhất, hạn chế phát sinh vướng mắc trong vận hành. Khi quy trình nghiệp vụ và hạ tầng số đồng bộ, cán bộ có điều kiện xử lý hồ sơ thuận lợi hơn; khi dữ liệu được chuẩn hóa, người dân giảm yêu cầu bổ sung giấy tờ; khi trách nhiệm giữa các cơ quan rõ ràng, chất lượng phục vụ được nâng lên.

Nhìn từ góc độ quản trị quốc gia, cơ sở dữ liệu đất đai là một hạ tầng nền tảng. Dữ liệu này không chỉ phục vụ cấp giấy chứng nhận hay đăng ký biến động, mà còn liên quan đến quy hoạch, đầu tư, tài chính đất đai, thị trường bất động sản, nông nghiệp, môi trường, đô thị, hạ tầng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất. Khi dữ liệu đất đai được chuẩn hóa và khai thác hiệu quả, mỗi quyết định quản lý có thêm cơ sở minh bạch; mỗi thủ tục hành chính có điều kiện xử lý nhanh hơn; mỗi người dân được phục vụ thuận tiện hơn.

Từ những con số bước đầu, 28/34 địa phương đã tái cấu trúc thủ tục, 2.842.194 hồ sơ được tiếp nhận trên môi trường điện tử, 94,6% hồ sơ điện tử được giải quyết thành công, 64,4 triệu thửa đất đã được xây dựng dữ liệu, có thể thấy cải cách thủ tục đất đai đã bước vào giai đoạn then chốt. Nhưng mục tiêu cuối cùng không nằm ở số liệu, mà ở sự thay đổi có thể cảm nhận được trong từng hồ sơ cụ thể.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quy trình được tái cấu trúc, hệ thống được kết nối và cán bộ được hỗ trợ đầy đủ, người dân sẽ từng bước giảm việc cung cấp lại các thông tin đã có trong hệ thống. Khi mỗi biến động đất đai được cập nhật trở lại cơ sở dữ liệu, dữ liệu sẽ ngày càng đầy đủ, sống động và hữu ích hơn. Khi địa phương không chỉ số hóa hồ sơ mà thật sự thiết kế lại cách phục vụ, cải cách thủ tục đất đai sẽ đi vào thực chất. Và cũng từ đó, một phương thức quản trị đất đai mới sẽ được định hình: quản trị bằng dữ liệu, phục vụ bằng dữ liệu và tạo dựng niềm tin hành chính bằng dữ liệu.

Tài liệu nguồn chính thống sử dụng:
[1] Cổng Thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, “28 địa phương đã thực hiện tái cấu trúc thủ tục đất đai”, ngày 19/6/2026.
[2] Bộ Nông nghiệp và Môi trường/Cục Quản lý đất đai, “Đã số hóa 64,4 triệu thửa đất, quyết tâm hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trong năm nay”, ngày 16/6/2026.
[3] Cổng Thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, “Bổ sung hướng dẫn hoàn thiện dữ liệu đất đai”, ngày 24/6/2026.
[4] Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
[5] Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15.
[6] Quyết định số 441/QĐ-BNNMT ngày 02/02/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố và hướng dẫn kết nối để khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin về Giấy chứng nhận thay thế thành phần hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính.

Từ nền tảng chính sách và những con số toàn quốc, kỳ 2, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường sẽ đi vào các địa phương đang chuyển động mạnh trong tái cấu trúc thủ tục và làm sạch dữ liệu đất đai, để thấy rõ hơn một câu hỏi: khi dữ liệu đã có, chính quyền địa phương phải tổ chức quy trình như thế nào để người dân được phục vụ thuận tiện hơn.

 

Hồng Minh