Sau 02 kỳ báo đã phân tích về những khó khăn, thách thức trong công tác giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Kỳ 3 này, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường sẽ đi sâu vào các giải pháp thiết thực để giúp các hộ nghèo và cận nghèo giữ vững thành quả giảm nghèo, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Bài viết đưa ra những đề xuất cụ thể, từ việc đa dạng hóa sinh kế, tăng cường cơ sở hạ tầng, đến các chính sách đổi mới về đào tạo nghề, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng thích ứng với khí hậu.
Đồng thời, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu các mô hình giảm nghèo thành công trong và ngoài nước, để từ đó rút ra bài học và đề xuất những chính sách phù hợp với đặc thù từng địa phương. Liệu rằng việc phát triển sinh kế bền vững, đi đôi với phát triển hạ tầng, sẽ có thể tạo ra nền tảng vững chắc giúp người dân vùng cao không chỉ thoát nghèo mà còn giữ được sự ổn định lâu dài?.
Đa dạng hóa sinh kế và tăng cường kỹ năng nghề nghiệp
Một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình giảm nghèo bền vững là giúp người dân đa dạng hóa sinh kế và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Phần lớn người dân miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn chủ yếu sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp, trong khi các ngành nghề phi nông nghiệp và công nghiệp chưa phát triển mạnh mẽ.
Theo báo cáo từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (trước đây) nay là Bộ Nội vụ, dù công tác dạy nghề cho người lao động nông thôn đã có những bước tiến, nhưng tỷ lệ thực tế người lao động được đào tạo nghề vẫn còn thấp. Chỉ có khoảng 27% lao động ở khu vực nông thôn được đào tạo qua các lớp nghề chính thức, trong khi ở các khu vực thành thị, tỷ lệ này là 50%.
Để giúp người dân miền núi không chỉ dựa vào nông nghiệp truyền thống, mà có thể đổi mới sinh kế với những nghề như: chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, dịch vụ, nghề thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến,
Thiết nghĩ, cần một hệ thống đào tạo nghề bài bản và tiếp cận thực tiễn, phù hợp với điều kiện của địa phương. Các mô hình hợp tác xã nông nghiệp, các trung tâm dạy nghề cấp huyện, các chương trình đào tạo ngắn hạn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, hay làm du lịch cộng đồng có thể là những hướng đi hiệu quả.
Anh Dương Văn Bính, một hộ gia đình mới thoát nghèo tại Tuyên Quang, chia sẻ: “Chúng tôi được tham gia lớp dạy kỹ thuật trồng bưởi và chăm sóc cây ăn quả. Bây giờ chúng tôi đã có thể tự làm được hết các công đoạn từ trồng, chăm sóc đến bán sản phẩm. Trước kia, chúng tôi chỉ biết làm nương rẫy và gia đình ít khi có thu nhập ổn định”.
Trong bối cảnh nông nghiệp công nghệ cao ngày càng phát triển, việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất là yếu tố quan trọng giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất nông sản chủ lực như cây ăn quả, chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện nay, việc áp dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở các vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế.
Chính quyền các tỉnh miền núi như Sơn La và Tuyên Quang đã bắt đầu triển khai các mô hình nông nghiệp thông minh, như sử dụng hệ thống tưới tự động, hệ thống kiểm soát sâu bệnh, và kết nối sản phẩm qua nền tảng thương mại điện tử để mở rộng thị trường tiêu thụ cho người dân. Đặc biệt, việc sử dụng phần mềm quản lý nông sản giúp người dân chủ động hơn trong việc kiểm soát sản phẩm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, tránh được rủi ro do biến động giá cả, thiếu thông tin thị trường.
Du lịch cộng đồng, đặc biệt là du lịch sinh thái, đang dần trở thành một trong những hướng đi bền vững cho vùng cao. Mô hình này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mà còn tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Một trong những mô hình điển hình là du lịch cộng đồng ở Mộc Châu (Sơn La), nơi người dân tham gia các hoạt động như hướng dẫn du lịch, bán sản phẩm nông sản sạch, hoặc tổ chức các chương trình trải nghiệm văn hóa như múa, hát, làm gốm. Đây là mô hình kết hợp sinh kế với bảo vệ môi trường và tạo nên sự kết nối bền vững giữa du khách và cộng đồng địa phương.
Đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ xã hội - nền tảng giữ vững thành quả giảm nghèo
Trong mọi chiến lược giảm nghèo, hạ tầng cơ sở luôn đóng vai trò quyết định. Không có hạ tầng giao thông tốt, cơ sở vật chất và dịch vụ xã hội đầy đủ, người dân khó có thể phát triển kinh tế, khó tiếp cận thị trường tiêu thụ, dịch vụ y tế và giáo dục.
Các chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã tập trung nhiều vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, đặc biệt là tại những khu vực vùng sâu, vùng xa, giúp kết nối các thôn bản với trung tâm xã, huyện. Những công trình này không chỉ cải thiện điều kiện sống, mà còn mở rộng khả năng sản xuất, tạo thêm cơ hội việc làm cho người dân.
Tại Tuyên Quang, một dự án nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn đã giúp hàng nghìn hộ dân ở Na Hang và Lâm Bình kết nối với trung tâm huyện và thành phố, giảm chi phí vận chuyển nông sản và giúp các sản phẩm nông sản được tiêu thụ nhanh chóng. Đây là một ví dụ rõ rệt về tác động của hạ tầng đối với phát triển kinh tế vùng cao. Nhiều người dân cho biết, từ khi đường bê tông được xây dựng, thu nhập gia đình đã tăng đáng kể và trẻ em cũng có thể dễ dàng đến trường.
Ngoài giao thông, hai yếu tố y tế và giáo dục là nền tảng giúp giữ vững kết quả giảm nghèo bền vững. Người dân vùng cao thiếu thốn về cả y tế và giáo dục, và khi gặp rủi ro như dịch bệnh, hay con em không thể tiếp tục học, gia đình dễ rơi vào vòng nghèo cũ.
Đầu tư vào y tế cơ sở, với các trạm y tế xã được nâng cấp, đội ngũ bác sĩ tăng cường và tăng cường cung cấp thuốc men cho vùng sâu, vùng xa sẽ giúp người dân không phải lo lắng về bệnh tật, giảm bớt gánh nặng kinh tế khi mắc bệnh. Tuy nhiên, y tế không thể thiếu sự hỗ trợ giáo dục. Cải thiện điều kiện học tập, xây dựng trường học kiên cố, thực hiện chương trình đào tạo nghề tại chỗ sẽ giúp thế hệ trẻ có cơ hội thoát nghèo bền vững.
Chính sách liên kết và đổi mới cơ chế quản lý - tạo sức mạnh cộng đồng
Một trong những yếu tố tạo ra thành công của mô hình giảm nghèo bền vững chính là liên kết vùng. Đây là một xu hướng mới mẻ, khi các địa phương kết hợp nguồn lực trong phát triển hạ tầng, chia sẻ kinh nghiệm về sinh kế, du lịch, và sản xuất. Chỉ khi các địa phương liên kết với nhau, các mô hình giảm nghèo mới có thể phát huy hết hiệu quả.
Điện Biên và Sơn La đã thực hiện liên kết sản xuất trong ngành nông nghiệp, cụ thể là trồng trọt và chăn nuôi theo chuỗi giá trị, kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ. Nhiều mô hình kinh tế hợp tác xã, tổ hợp tác đã được thành lập, tạo ra một hệ sinh thái giảm nghèo ổn định.
Để giảm nghèo bền vững, cải cách hành chính là yếu tố không thể thiếu. Thực tế, quy trình thủ tục hành chính chậm là một trong những yếu tố làm giảm tốc độ triển khai chính sách giảm nghèo tại địa phương. Tuyên Quang và Điện Biên đang tiến hành đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong việc giải quyết các dự án giảm nghèo và cấp vốn hỗ trợ cho người dân. Cần có một cơ chế quản lý linh hoạt để mọi nguồn lực có thể đi đúng hướng và tiếp cận người dân một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Giảm nghèo bền vững không thể đạt được chỉ qua một vài chính sách đơn lẻ, mà cần phải có sự tích hợp của các yếu tố: từ việc đào tạo nghề, đa dạng hóa sinh kế, đầu tư hạ tầng, dự phòng thiên tai, đến cải cách hành chính và liên kết cộng đồng.
Với sự hợp lực của chính quyền, doanh nghiệp, và cộng đồng, những giải pháp này không chỉ giúp giảm nghèo, mà còn giúp người dân miền núi và dân tộc thiểu số vươn lên làm chủ cuộc sống, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng miền, và biến mục tiêu giảm nghèo bền vững thành hiện thực có thể đạt được.
Mời bạn đọc tiếp tục đón đọc những bài viết phân tích khác về vấn đề giảm nghèo và phát triển bền vững trong bối cảnh đổi mới đất nước.