Nghị định số 180/2026/NĐ-CP: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường các-bon rừng tại Việt Nam

Nghị định số 180/2026/NĐ-CP: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường các-bon rừng tại Việt Nam

Thứ ba, 26/5/2026, 06:58 (GMT+7)
logo Nghị định số 180/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội khai thác hiệu quả giá trị kinh tế từ rừng, đồng thời tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050.
6fdcc63c022147d9acb52f0368e2200e-19805_1779622584.jpg
Người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng nhằm phát huy giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon, góp phần phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng tại Việt Nam

Bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế xanh

Ngày 21/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển thị trường các-bon rừng tại Việt Nam, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải khí nhà kính và tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Nghị định được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai các cam kết quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là mục tiêu đưa phát thải ròng về mức “0” vào năm 2050 theo cam kết tại Hội nghị COP26. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng, khai thác hiệu quả tiềm năng hấp thụ và lưu giữ các-bon của hệ sinh thái rừng.

Quy định rõ đối tượng cung ứng và sử dụng dịch vụ các-bon rừng

Theo quy định, Nghị định điều chỉnh các hoạt động liên quan đến chi trả, quản lý và sử dụng nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; hoạt động trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon rừng. Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động cung ứng, sử dụng dịch vụ các-bon rừng.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể về đối tượng được hưởng nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng. Theo đó, bên cung ứng dịch vụ gồm các chủ rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp; UBND cấp xã và các tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng. Bên sử dụng dịch vụ là các tổ chức, cá nhân có lượng phát thải khí nhà kính vượt hạn ngạch hoặc có nhu cầu trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng trong nước và quốc tế.

rung-1_1779627735.png

Minh bạch cơ chế chi trả và giao dịch tín chỉ các-bon

Về cơ chế chi trả, Nghị định quy định tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được tính bằng đồng Việt Nam trên cơ sở số lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ các-bon được trao đổi, chuyển nhượng. Giá giao dịch do các bên thỏa thuận hoặc thực hiện thông qua sàn giao dịch các-bon theo quy định của pháp luật. Đối với các giao dịch với nước ngoài, mức giá được quy đổi theo tỷ giá đồng Việt Nam tại thời điểm thanh toán.

Đặc biệt, Nghị định nhấn mạnh nguyên tắc xác định mức chi trả phải bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với cơ chế thị trường và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ rừng, cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Nguồn thu từ dịch vụ các-bon rừng được ưu tiên sử dụng cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời góp phần nâng cao đời sống của người dân sinh sống gần rừng và cộng đồng tham gia quản lý rừng.

Phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương

Để bảo đảm triển khai hiệu quả, Chính phủ giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện Nghị định; xây dựng tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia; thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải và quản lý cơ sở dữ liệu các-bon rừng trên phạm vi toàn quốc.

Bộ Quốc phòng và Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp giám sát các hoạt động liên quan đến dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng tại khu vực biên giới, địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Các bộ, ngành liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao để phối hợp triển khai thực hiện Nghị định theo đúng quy định pháp luật.

Đối với UBND cấp tỉnh, Nghị định quy định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát các dự án các-bon rừng tại địa phương; phê duyệt, quản lý các dự án thuộc thẩm quyền; chỉ đạo việc quản lý và sử dụng nguồn thu đúng quy định; đồng thời định kỳ báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kết quả triển khai thực hiện.

UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, giám sát các dự án triển khai trên địa bàn; tham gia xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện dự án các-bon rừng; hỗ trợ rà soát, xác nhận đối tượng tham gia dự án theo quy định.

Đối với các chủ rừng, Chủ rừng giữ vai trò trung tâm trong thực hiện dự án các-bon Nghị định yêu cầu thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ diện tích rừng tham gia dự án; cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan; phối hợp đo đạc, kiểm kê và giám sát kết quả giảm phát thải. Đồng thời, chủ rừng phải sử dụng nguồn thu đúng mục đích, ưu tiên cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng; bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về lâm nghiệp, môi trường cũng như các cam kết quốc tế liên quan đến tín chỉ các-bon rừng.

nong-dan-trong-rung_23072024113839_723_1779627764.jpg
Lực lượng chức năng và chính quyền địa phương kiểm tra, giám sát diện tích rừng tham gia dự án các-bon, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng

Tạo nền tảng để Việt Nam tham gia sâu vào thị trường các-bon quốc tế

Việc ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường các-bon rừng tại Việt Nam, tạo điều kiện để các nguồn tài nguyên rừng tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giao dịch tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế. Đây không chỉ là cơ hội khai thác giá trị kinh tế từ rừng mà còn góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong thực hiện các cam kết toàn cầu về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thông qua việc quy định rõ cơ chế quản lý, chi trả, trao đổi và chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng, Nghị định giúp tăng tính minh bạch, đồng bộ trong quá trình triển khai các dự án giảm phát thải. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Việt Nam từng bước kết nối với các tiêu chuẩn quốc tế về đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải khí nhà kính, qua đó nâng cao khả năng tham gia thị trường các-bon toàn cầu.

Nghị định cũng mở ra cơ hội thu hút các nguồn tài chính xanh, nguồn vốn đầu tư quốc tế và các chương trình hợp tác về giảm phát thải thông qua bảo vệ và phát triển rừng. Khi thị trường các-bon rừng được vận hành hiệu quả, người dân, cộng đồng và chủ rừng sẽ có thêm nguồn thu hợp pháp từ việc bảo vệ rừng, góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao trách nhiệm giữ rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững.

Bên cạnh giá trị kinh tế, việc phát triển thị trường các-bon rừng còn góp phần thúc đẩy quản lý tài nguyên rừng theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững hơn. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng vào thị trường các-bon quốc tế, đồng thời tạo động lực lâu dài cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xanh.

Top of Form

Bottom of Form

 

Minh Phương