news
Nguyễn Trọng Minh: Chuyển đổi số quản lý rác thải là nền tảng để thực thi EPR hiệu quả, thúc đẩy đô thị xanh và kinh tế tuần hoàn

Nguyễn Trọng Minh: Chuyển đổi số quản lý rác thải là nền tảng để thực thi EPR hiệu quả, thúc đẩy đô thị xanh và kinh tế tuần hoàn

Thứ ba, 16/6/2026, 09:23 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020 theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu môi trường và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, yêu cầu đổi mới phương thức quản lý chất thải đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Theo ông Nguyễn Trọng Minh - Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ GRAC muốn biến chất thải từ gánh nặng môi trường thành nguồn tài nguyên cho phát triển, cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ dòng chảy của chất thải. Từ thực tiễn triển khai hệ thống quản lý chất thải GRAC tại Phú Quốc, nhiều kinh nghiệm đang cho thấy dữ liệu không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng để xây dựng đô thị xanh, nâng cao hiệu quả quản trị và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững.
lvk01777-jpg-1766146398-176614-9901-1582-1766148415-1_1781261673.webp
Ông Nguyễn Trọng Minh

Không thể quản lý rác bằng phương pháp của thế kỷ trước

PV: Thưa ông, quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang là một trong những thách thức lớn của các đô thị hiện nay. Từ góc nhìn của ông, vì sao chuyển đổi số trong quản lý rác thải không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Áp lực từ đô thị hóa, phát triển kinh tế, du lịch và gia tăng dân số đang khiến lượng chất thải phát sinh tăng nhanh tại nhiều địa phương. Trong khi đó, công tác quản lý ở nhiều nơi vẫn dựa trên hồ sơ giấy, báo cáo thủ công hoặc dữ liệu phân tán giữa các đơn vị khác nhau.

Cách quản lý này từng phù hợp trong giai đoạn trước, nhưng hiện nay đã không còn đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Khi một đô thị có hàng chục nghìn hộ dân, hàng nghìn cơ sở kinh doanh và hàng trăm tuyến thu gom, nếu không có dữ liệu số thì rất khó xác định chính xác lượng chất thải phát sinh, hiệu quả thu gom, chi phí dịch vụ hay trách nhiệm của từng chủ thể tham gia.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã chuyển sang quản lý chất thải dựa trên dữ liệu. Nhật Bản vận hành hệ thống JWNET để theo dõi toàn bộ quá trình phát sinh, vận chuyển và xử lý chất thải. Hàn Quốc xây dựng hệ thống Allbaro kết hợp công nghệ RFID để giám sát chất thải theo thời gian thực. Những mô hình này cho thấy dữ liệu đang trở thành nền tảng của quản trị môi trường hiện đại.

Đối với Việt Nam, khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 yêu cầu phân loại rác tại nguồn và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số không còn là xu hướng mà là điều kiện tiên quyết để các chính sách đi vào cuộc sống.

chatgpt-image-16_12_44-12-thg-6-2026_1781262107.png

PV: Qua nghiên cứu các mô hình quốc tế, theo ông đâu là bài học quan trọng nhất mà Việt Nam có thể tham khảo?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Tôi cho rằng có ba bài học rất đáng chú ý.

Thứ nhất, là phân loại chất thải phải bắt đầu từ nguồn phát sinh. Nhật Bản thành công không phải chỉ vì có công nghệ xử lý hiện đại mà bởi người dân tham gia rất nghiêm túc vào quá trình phân loại.

Thứ hai, là toàn bộ chuỗi quản lý phải được số hóa và truy xuất được. Từ chủ nguồn thải, đơn vị thu gom, đơn vị vận chuyển đến cơ sở xử lý đều được kết nối trên cùng một hệ thống.

Thứ ba, là thay đổi cách nhìn về chất thải. Chất thải không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và tạo ra giá trị kinh tế nếu được quản lý đúng cách.

Đó cũng là những định hướng phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế tuần hoàn mà Việt Nam đang thúc đẩy hiện nay.

Dữ liệu là hạ tầng mới của quản trị môi trường

z7929216064082_462f792da7009c2867d2bc2f105d930a_1781262768.jpg
Sống xanh công nghệ số vì môi trường

PV: Từ thực tiễn triển khai tại Phú Quốc, ông đánh giá đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong công tác quản lý chất thải hiện nay?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất là thiếu dữ liệu đồng bộ.

Nhiều địa phương chưa có cơ sở dữ liệu đầy đủ về chủ nguồn thải, chưa quản lý được hợp đồng dịch vụ, chưa kiểm soát được lượng chất thải phát sinh theo từng khu vực hoặc nhóm đối tượng.

Khi triển khai tại Phú Quốc, chúng tôi đã số hóa gần 49.000 chủ nguồn thải, bao gồm hộ gia đình, hộ kinh doanh, nhà hàng, cơ sở lưu trú, trường học và cơ quan nhà nước. Đây là lần đầu tiên địa phương có được một bức tranh tương đối đầy đủ về hệ sinh thái phát sinh chất thải trên địa bàn.

Từ đó, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình hình thu gom, phân loại, phản ánh của người dân cũng như hiệu quả hoạt động của các đơn vị dịch vụ.

PV: Ông nhiều lần nhấn mạnh khái niệm “quản lý môi trường bằng dữ liệu”. Cụ thể điều này được hiểu như thế nào?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Trước đây, quản lý môi trường chủ yếu dựa trên báo cáo định kỳ. Điều đó đồng nghĩa với việc nhiều quyết định được đưa ra khi sự việc đã xảy ra.

Khi chuyển sang nền tảng số, toàn bộ dữ liệu về chủ nguồn thải, hợp đồng, đơn vị thu gom, điểm tập kết, khối lượng chất thải, phản ánh của người dân đều được cập nhật liên tục trên cùng một hệ thống.

Điều này giúp cơ quan quản lý chuyển từ tư duy “xử lý sự cố” sang “quản trị dự báo”. Các quyết định không còn dựa trên cảm tính mà dựa trên dữ liệu thực tế.

Tôi cho rằng dữ liệu chính là hạ tầng mới của quản trị môi trường. Đô thị càng phát triển thì vai trò của dữ liệu càng quan trọng.

Mỗi người dân là một mắt xích trong hệ sinh thái môi trường số

PV: Theo ông, người dân sẽ đóng vai trò như thế nào trong mô hình quản lý chất thải số?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Người dân không còn là đối tượng thụ hưởng dịch vụ đơn thuần mà trở thành một chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý.

Thông qua ứng dụng số, người dân có thể tra cứu thông tin, thanh toán phí dịch vụ trực tuyến, đăng ký thu gom chất thải cồng kềnh, gửi phản ánh hiện trường và tiếp cận hướng dẫn phân loại chất thải tại nguồn.

Quan trọng hơn, người dân được kết nối trực tiếp với chính quyền và đơn vị cung cấp dịch vụ. Điều này giúp tăng tính minh bạch, nâng cao chất lượng phục vụ và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.

Tôi cho rằng xây dựng đô thị xanh không thể chỉ dựa vào chính quyền hay doanh nghiệp. Thành công chỉ đến khi mỗi người dân trở thành một mắt xích trong hệ sinh thái môi trường số.

chatgpt-image-18_19_07-12-thg-6-2026_1781263192.png

PV: Kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu. Theo ông, chuyển đổi số sẽ đóng vai trò như thế nào trong quá trình này?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Kinh tế tuần hoàn trước hết là câu chuyện của dữ liệu.

Muốn tái chế hiệu quả, chúng ta phải biết chất thải phát sinh ở đâu, số lượng bao nhiêu, thành phần như thế nào và được xử lý ra sao.

Khi toàn bộ dòng vật liệu được số hóa, việc kết nối giữa chủ nguồn thải, đơn vị thu gom, cơ sở tái chế và cơ quan quản lý sẽ trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Đây chính là nền tảng để hình thành thị trường nguyên liệu thứ cấp và nâng cao giá trị của các hoạt động tái chế. Nói cách khác, chuyển đổi số giúp biến chất thải từ gánh nặng môi trường thành nguồn tài nguyên cho phát triển.

z7929216053256_69f9a1de442fb9c168648d9f4b04c54c_1781262831.jpg
Lan toả ý thức và trách nhiệm sống xanh trong học đường

PV: Nếu nhìn về 10 năm tới, ông hình dung bức tranh quản lý chất thải của Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào?

Ông Nguyễn Trọng Minh: Tôi tin rằng trong tương lai, dữ liệu chất thải sẽ trở thành một phần của hạ tầng số quốc gia.

Mỗi nguồn phát sinh chất thải sẽ có định danh số; toàn bộ quá trình thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý được theo dõi trên môi trường số. Chính quyền có thể quản lý theo thời gian thực, doanh nghiệp có thêm cơ hội phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, còn người dân được tham gia trực tiếp vào quá trình quản trị môi trường.

Đó không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà còn là sự thay đổi về tư duy phát triển. Một đô thị xanh, thông minh và bền vững trong tương lai sẽ không thể tách rời chuyển đổi số. Và quản lý chất thải chính là một trong những lĩnh vực cần đi đầu trong quá trình đó.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Minh (thực hiện)