Đưa Nghị quyết của Đảng vào đời sống sản xuất:

Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn

Thứ tư, 21/1/2026, 15:43 (GMT+7)
logo Hiện nay, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và bền vững không còn là lựa chọn mang tính xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi quốc gia nếu muốn nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó, các cam kết quốc tế về cắt giảm phát thải khí nhà kính và những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường lớn đang đặt ra không ít thách thức cho ngành nông nghiệp.

Chuyển đổi xanh phải bằng hành động cụ thể

Trong nhiều năm trở lại đây, tính bền vững về tiêu chuẩn sản xuất xanh, minh bạch về nguồn gốc sản phẩm đã trở thành luật chơi trên thị trường quốc tế. Quy định về chống phá rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR) được áp dụng từ ngày 30 tháng 12 năm 2025 đặt ra yêu cầu ngành nông nghiệp nước ta phải thay đổi phương thức sản xuất theo hướng bền vững, quản lý chuỗi cung ứng có truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

1_1768962494.webp
Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn và bền vững không còn là lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi quốc gia

Để chuyển đổi nông nghiệp xanh, thời gian qua Đồng Tháp đã tích cực triển khai “Đề án phát triển bền vững 1 triệu hec-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030”. Tỉnh đã tập trung liên kết chuỗi, ứng dụng công nghệ để giảm phát thải, tạo tín chỉ carbon và tận dụng phế phẩm nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần tạo nên một cuộc cách mạng xanh trên đồng ruộng.

Chia sẻ về việc thu gom rơm rạ sau khi thu hoạch lúa để làm phân hữu cơ, ông Lê Long Hồ, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Hòa Long (Đồng Tháp) cho biết: “Từ lúc thu hoạch lúa đến khi ra được một bao phân hữu cơ hoàn chỉnh mất khoảng 4 tháng, trải qua 8 công đoạn".

Hiện nay, mỗi tháng HTX Dịch vụ nông nghiệp Hòa Long sản xuất khoảng 100 tấn phân hữu cơ. Sau khi thu hoạch lúa,  rơm rạ trên đồng sẽ được cuộn lại. Một phần trong đó được bà con đem về tận dụng trồng nấm; một phần được ủ với chế phẩm vi sinh làm thức ăn cho gia súc như bò, dê. Phần còn lại sẽ được ủ qua với phân trùn quế và nấm trichoderma để tạo ra phân hữu cơ.
Để thực hiện chuyển đổi xanh trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản, bên cạnh việc sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, từ năm 2022 đến nay, tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp với thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang thả hơn 2,5 triệu con cá giống ra sông để tái tạo, phục hồi nguồn lợi thủy sản đang suy giảm. 
Từ hiệu quả ban đầu , đến nay chương trình đã nhận được sự chung tay của nhiều tổ chức, cá nhân, nhất là các tổ chức quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Theo góc nhìn của các chuyên gia, ĐBSCL, trong đó có Đồng Tháp đã và đang đối mặt đồng thời với cả cơ hội và thách thức. Vì vậy, chuyển đổi xanh không chỉ dừng ở khẩu hiệu mà phải bằng hành động, biến tiềm năng thành sản phẩm, cụ thể từ lúa gạo, trái cây đến thủy sản đạt chuẩn quốc gia, quốc tế và phù hợp với yêu cầu thị trường.

TS. Trần Hữu Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch ĐBSCL cho rằng, không chỉ sản phẩm xuất khẩu mà cả thị trường trong nước ngày càng đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng cao. Vì vậy, việc xây dựng thương hiệu cho từng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản cần gắn với xu hướng xanh hóa và chuyển đổi số.

Thay đổi tư duy lối mòn và tháo gỡ điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất

Trong các chiến lược chuyển đổi xanh, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp tuần hoàn luôn được nhấn mạnh và đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, đồng thời đưa vào dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.

Ông Hoàng Văn Hồng - Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, hiện nay các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển đổi xanh đang được triển khai trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, phần lớn vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, chưa đủ tầm để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất quy mô lớn.

2_1768962547.webp
Chuyển đổi xanh không chỉ dừng ở khẩu hiệu mà phải bằng hành động cụ thể.

Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, trước hết, hạn chế lớn nhất hiện nay nằm ở quy mô sản xuất và tổ chức nông dân. Nông nghiệp nước ta vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, đất đai manh mún, gây khó khăn cho việc áp dụng đồng bộ các quy trình sản xuất xanh, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Nhiều hợp tác xã chưa đủ năng lực tổ chức sản xuất theo vùng nguyên liệu tập trung, khiến các mô hình nông nghiệp xanh chủ yếu dừng ở mức thí điểm, khó duy trì lâu dài và mở rộng quy mô.

Bên cạnh đó, chi phí chuyển đổi sang sản xuất xanh thường cao hơn so với sản xuất thông thường, trong khi lợi ích ngắn hạn chưa rõ ràng. Việc đầu tư ban đầu cho giống, vật tư, chứng nhận, xử lý phụ phẩm hay hạ tầng sản xuất khá lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài. Ở giai đoạn đầu, năng suất có thể giảm, giá bán chưa ổn định, khiến nông dân e ngại rủi ro và thiếu động lực mở rộng sản xuất.

Thị trường và chuỗi giá trị cho nông sản xanh cũng chưa phát triển đồng bộ. Dù nhu cầu trong nước và thế giới ngày càng tăng, nhưng chênh lệch giá giữa sản phẩm xanh và sản phẩm thông thường chưa đủ hấp dẫn, thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu các chuỗi giá trị khép kín, khiến sản xuất xanh khó phát triển bền vững.

Ngoài ra, cơ chế, chính sách hỗ trợ hiện nay chưa đủ mạnh và đồng bộ để khuyến khích nông dân mở rộng sản xuất. Nguồn nhân lực và dịch vụ kỹ thuật cũng là một điểm nghẽn, đòi hỏi ngành khuyến nông phải tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đủ khả năng hướng dẫn, tổ chức và đồng hành cùng nông dân trong quá trình chuyển đổi.

Đặc biệt, tư duy sản xuất của người nông dân và thói quen tiêu dùng của người dân vẫn chưa thay đổi đồng đều. Nhiều người tiêu dùng thừa nhận sản phẩm xanh tốt hơn, an toàn hơn, nhưng chưa sẵn sàng chấp nhận mức giá cao, khiến đầu ra cho sản phẩm xanh chưa thực sự bền vững.

“Việc nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh còn chậm không phải do thiếu chủ trương, mà chủ yếu xuất phát từ tư duy lối mòn và những điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, chi phí đầu tư, thị trường, chính sách và nguồn nhân lực. Để khắc phục, cần chuyển trọng tâm từ làm mô hình sang xây dựng các vùng nguyên liệu sản xuất tập trung và chuỗi giá trị nông nghiệp xanh, trong đó hợp tác xã giữ vai trò trung tâm, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và thị trường là lực lượng dẫn dắt. Có như vậy mới thúc đẩy được sản xuất xanh phát triển theo hướng bền vững”, ông Hoàng Văn Hồng đánh giá.

Lê Tâm