Việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập đang tạo ra cơ hội lớn cho ngành thủy sản Quảng Ngãi, song cũng đồng thời bộc lộ nhiều điểm nghẽn về hạ tầng, tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi. Trước yêu cầu mới, địa phương đang từng bước xây dựng định hướng tái cơ cấu toàn diện nhằm nâng cao giá trị và phát triển bền vững.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, sau sáp nhập, tỉnh sở hữu lợi thế hiếm có khi kết nối vùng biển Duyên hải Nam Trung bộ với khu vực cao nguyên Bắc Tây Nguyên. Không gian liên vùng này cho phép phát triển đa dạng các loại hình thủy sản, từ khai thác biển, nuôi trồng nước mặn - lợ đến nuôi nước ngọt tại các hồ chứa.
Hiện toàn tỉnh có 211 hồ chứa thủy lợi, với tổng dung tích gần 487 triệu m³ nước, tạo dư địa lớn để phát triển nuôi trồng theo nhiều vùng sinh thái khác nhau. Những năm qua, ngành thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 3,5%/năm; cơ cấu sản xuất từng bước chuyển dịch, góp phần thay đổi nhận thức của người dân.
Dù vậy, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Hạ tầng hậu cần nghề cá còn thiếu đồng bộ, liên kết sản xuất – tiêu thụ chưa chặt chẽ, trong khi yêu cầu tuân thủ các quy định chống khai thác IUU ngày càng khắt khe.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi Hồ Trọng Phương cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sản xuất còn phân tán, thiếu liên kết và chưa khai thác hiệu quả lợi thế liên vùng sau sáp nhập.
Đáng chú ý, khu vực Kon Tum (cũ) vẫn chủ yếu phát triển thủy sản quy mô nhỏ lẻ, chưa tận dụng hiệu quả mặt nước hồ chứa, đồng thời thiếu cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ ổn định. Điều này khiến tiềm năng dù lớn nhưng chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế tương xứng.
Trước thực tế đó, Quảng Ngãi đã xin chủ trương xây dựng “Đề án phát triển thủy sản bền vững giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”. Mục tiêu của đề án là khai thác hiệu quả tiềm năng liên vùng, đồng thời định hình lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, gắn với sinh kế lâu dài của người dân và phát triển kinh tế biển bền vững.
Theo định hướng đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng ngành lên 4–5%/năm; tổng sản lượng đạt khoảng 284.547 tấn; giá trị sản xuất hơn 9.000 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 25 triệu USD. Cơ cấu ngành sẽ chuyển dịch rõ rệt theo hướng giảm dần khai thác, tăng tỷ trọng nuôi trồng và chế biến.
Ông Hồ Trọng Phương cho biết, lĩnh vực khai thác sẽ được tái cơ cấu theo hướng giảm số lượng tàu, nâng cao hiệu quả và tuân thủ nghiêm các quy định quốc tế, đặc biệt là chống khai thác IUU. Song song đó, nuôi trồng thủy sản sẽ được xác định là trụ cột, phát triển theo chuỗi liên kết gắn với chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
Cụ thể, Quảng Ngãi đặt mục tiêu mở rộng diện tích nuôi lên 2.530 ha, phát triển khoảng 2.500 lồng nuôi biển, với sản lượng nuôi đạt hơn 17.500 tấn. Đồng thời, các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sẽ được hình thành, đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong lĩnh vực chế biến, tỉnh định hướng nâng công suất các nhà máy lên khoảng 30.000 tấn/năm, đẩy mạnh chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm giảm thiểu chất thải. Hệ thống hậu cần nghề cá cũng sẽ được đầu tư đồng bộ, từ cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão đến các dịch vụ cung ứng. Dự kiến, các cảng cá trên địa bàn sẽ có khả năng tiếp nhận khoảng 950 lượt tàu/ngày, với sản lượng bốc dỡ hơn 150.000 tấn/năm.
Về dài hạn, đến năm 2045, ngành thủy sản Quảng Ngãi định hướng phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, với cơ cấu giảm khai thác, tăng nuôi trồng và chế biến, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Đề án dự kiến hoàn thiện, trình ban hành vào cuối năm 2026, với kinh phí xây dựng khoảng 2,6 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh.
Liên quan đến nội dung này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đỗ Tâm Hiển đã ký văn bản thống nhất chủ trương xây dựng đề án, đồng thời giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh chủ trì triển khai, hoàn thiện và trình UBND tỉnh xem xét trước ngày 30/11/2026.