news
Ông Phạm Văn Sơn: Doanh nghiệp mong muốn tinh gọn thủ tục, nâng cao năng lực ứng phó sự cố môi trường theo hướng thực chất

Ông Phạm Văn Sơn: Doanh nghiệp mong muốn tinh gọn thủ tục, nâng cao năng lực ứng phó sự cố môi trường theo hướng thực chất

Thứ năm, 21/5/2026, 06:53 (GMT+7)
logo Trong nhiều năm qua, doanh nghiệp và địa phương phải xây dựng nhiều loại kế hoạch, phương án ứng phó khác nhau như: tràn dầu, hóa chất, chất thải, cháy nổ, phòng chống thiên tai, phòng thủ dân sự hay sự cố môi trường. Mỗi loại kế hoạch gắn với một lĩnh vực chuyên ngành, một quy trình quản lý và yêu cầu kỹ thuật riêng. Tuy nhiên, từ thực tiễn ứng phó sự cố, nhiều doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng cần tiếp tục tăng cường cách tiếp cận phối hợp liên ngành, bảo đảm việc ứng phó được triển khai đồng bộ, hiệu quả và sát với thực tế phát sinh.
z7836898944436_2d28069d24e5eb4d922541c3ec9bfee9_1779079173.jpg
Ông Phạm Văn Sơn

Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Văn Sơn - Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh các nguy cơ môi trường ngày càng phức tạp, điều quan trọng không chỉ là hoàn thiện hồ sơ kế hoạch, mà còn là nâng cao năng lực phối hợp, sẵn sàng ứng phó thực chất giữa doanh nghiệp, địa phương và các lực lượng liên quan.

Không nên chỉ dừng ở yêu cầu hoàn thiện hồ sơ kế hoạch

PV: Thưa ông, vì sao ông nhiều lần đề xuất cần tăng cường tính liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành trong công tác ứng phó sự cố môi trường?

Ông Phạm Văn Sơn:

Tôi nghĩ vấn đề nằm ở cách tiếp cận trong quản trị rủi ro môi trường.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp phải xây dựng các kế hoạch ứng phó khác nhau theo yêu cầu của từng lĩnh vực chuyên ngành như: tràn dầu, hóa chất, chất thải hay phòng ngừa sự cố môi trường. Đây là yêu cầu cần thiết trong quá trình quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực cụ thể.

Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn ứng phó, doanh nghiệp cũng mong muốn các kế hoạch được tăng cường tính liên thông và khả năng triển khai thực tế. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng đầy đủ các kế hoạch theo quy định. Tuy nhiên, trong các tình huống phức tạp, yêu cầu đặt ra là cần bảo đảm khả năng phối hợp, huy động lực lượng và triển khai ứng phó một cách nhanh chóng, đồng bộ và hiệu quả hơn.

Theo tôi, điều quan trọng là phải đánh giá đầy đủ nguy cơ có thể phát sinh tại cơ sở: tác nhân nào có khả năng gây sự cố, phạm vi ảnh hưởng ra sao, nguy cơ lan truyền đến môi trường nước, đất, không khí hay khu dân cư như thế nào; đồng thời cần xác định rõ lực lượng, thiết bị, vật tư, quy trình phối hợp và phương án phục hồi môi trường khi xảy ra sự cố. Đó mới là yếu tố cốt lõi của quản trị rủi ro môi trường hiện đại.

Dầu, hóa chất, chất thải, nước thải, khí độc hay nước chữa cháy nhiễm bẩn có thể khác nhau về đặc tính kỹ thuật. Nhưng khi các tác nhân này phát tán ra môi trường và gây ảnh hưởng đến con người, hệ sinh thái hay đời sống xã hội thì yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế phối hợp ứng phó hiệu quả, đồng bộ và kịp thời.

Sự cố thực tế luôn đòi hỏi phối hợp liên ngành

PV: Có phải lâu nay công tác ứng phó sự cố vẫn đang được triển khai theo từng lĩnh vực chuyên ngành riêng biệt?

Ông Phạm Văn Sơn:

Trong thực tế, mỗi lĩnh vực hiện đều có cơ chế quản lý chuyên ngành riêng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ, lĩnh vực hóa chất có hệ thống quản lý chuyên ngành riêng; xăng dầu, chất thải, phòng cháy chữa cháy, phòng thủ dân sự hay phòng chống thiên tai cũng đều có cơ chế quản lý, quy trình kỹ thuật và lực lượng chuyên trách.

Sự phân công chuyên môn như vậy là cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều sự cố có tính chất liên ngành và tác động trên diện rộng, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng và cơ quan chức năng.

Một sự cố hóa chất có thể ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước, nguồn nước mặt, khu dân cư và sức khỏe cộng đồng. Một vụ cháy có thể kéo theo nước chữa cháy nhiễm hóa chất phát tán ra môi trường. Hay sự cố chất thải có thể tác động đồng thời đến đất, nước và không khí. Khi đó, yêu cầu đặt ra là cần triển khai đồng thời các giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phục hồi môi trường sau sự cố.

Theo tôi, không nên nhìn đây là câu chuyện của riêng ngành hay lĩnh vực nào. Mỗi lực lượng đều có vai trò rất quan trọng. Lĩnh vực công thương có chuyên môn về hóa chất, quy trình công nghiệp và điều kiện lưu chứa. Lực lượng công an đảm nhiệm công tác phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và bảo vệ hiện trường. Các lực lượng quân sự, phòng thủ dân sự tham gia điều phối và huy động lực lượng trong các tình huống lớn. Ngành xây dựng, thoát nước nắm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Ngành y tế đánh giá nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng.

Trong cơ chế phối hợp liên ngành hiện nay, các cơ quan quản lý môi trường có vai trò quan trọng trong công tác đánh giá tác động, quan trắc, khoanh vùng ô nhiễm và giám sát phục hồi môi trường sau sự cố. Điều quan trọng là các lực lượng, cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp cần có cơ chế phối hợp hiệu quả, thống nhất trong quá trình ứng phó.

Tăng tính liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành

PV: Như vậy, có thể hiểu ông không phủ nhận vai trò của các quy định chuyên ngành, mà mong muốn tăng cường tính liên thông trong quá trình ứng phó?

Ông Phạm Văn Sơn:

Đúng vậy. Tôi không cho rằng cần thay đổi hay xóa bỏ các quy định chuyên ngành. Ngược lại, mỗi lĩnh vực vẫn cần có yêu cầu kỹ thuật, quy trình và lực lượng chuyên môn riêng. Tuy nhiên, theo tôi, có thể nghiên cứu theo hướng tăng cường tính tích hợp và liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành nhằm tạo thuận lợi cho quá trình phối hợp và tổ chức ứng phó khi xảy ra sự cố.

Phần cốt lõi có thể là các nội dung dùng chung như: nhận diện nguy cơ, cơ chế tiếp nhận thông tin, phân cấp tình huống, điều phối hiện trường, huy động lực lượng, thông tin truyền thông, quan trắc và phục hồi môi trường.

Trong khi đó, các nội dung chuyên ngành như dầu, hóa chất, chất thải, cháy nổ hay thiên tai có thể được xây dựng dưới dạng các phụ lục kỹ thuật hoặc kịch bản ứng phó riêng.

Ví dụ, với dầu cần có quy trình về phao quây, vật tư thấm dầu, bơm hút và xử lý chất thải nhiễm dầu. Với hóa chất cần có hướng dẫn nhận diện hóa chất, phân vùng nguy hiểm, thiết bị bảo hộ và quy trình khử nhiễm. Với chất thải cần có giải pháp thu gom, lưu giữ và xử lý phù hợp.

Theo tôi, việc tăng cường tính liên thông giữa các kế hoạch có thể giúp đồng bộ hơn về dữ liệu nguy cơ, cơ chế tiếp nhận thông tin, huy động lực lượng, quan trắc và phục hồi môi trường. Ngay cả trong công tác thẩm định, cách tiếp cận này cũng không làm giảm vai trò chuyên môn. Điều quan trọng là có cơ chế phối hợp phù hợp để các cơ quan, chuyên gia cùng nhìn nhận đầy đủ các nguy cơ và kịch bản rủi ro có thể phát sinh tại cơ sở hoặc địa phương. Điều quan trọng là cần có cơ chế điều phối hiệu quả, phát huy được chuyên môn của từng lực lượng trong quá trình ứng phó sự cố.

Doanh nghiệp mong muốn tinh gọn thủ tục, nâng cao năng lực ứng phó thực chất

PV: Với doanh nghiệp, cách tiếp cận tăng tính liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành sẽ mang lại lợi ích gì, thưa ông?

Ông Phạm Văn Sơn:

Từ góc độ doanh nghiệp, việc phải xây dựng nhiều loại hồ sơ, kế hoạch riêng theo từng quy định chuyên ngành khiến doanh nghiệp phải dành khá nhiều thời gian, nhân lực và chi phí cho công tác thủ tục hành chính.

Trong khi đó, giữa các loại kế hoạch hiện nay có không ít nội dung mang tính tương đồng như: thông tin cơ sở, sơ đồ mặt bằng, lực lượng ứng phó, danh mục thiết bị, đầu mối liên hệ hay quy trình thông tin báo cáo.

Doanh nghiệp mong muốn các quy định theo hướng tăng cường tính liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành, qua đó góp phần tinh gọn hồ sơ, giảm áp lực thủ tục hành chính và tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung nhiều hơn cho việc đầu tư năng lực ứng phó thực tế.

Theo tôi, điều doanh nghiệp quan tâm nhất không chỉ là hoàn thiện hồ sơ theo quy định, mà còn là khả năng sẵn sàng xử lý tình huống khi sự cố thực sự xảy ra. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện kế hoạch, doanh nghiệp cũng cần đầu tư đầy đủ vật tư chuyên dụng, lực lượng được huấn luyện, quy trình phối hợp, hệ thống cảnh báo, phương án diễn tập và cơ chế phối hợp với các đơn vị ứng phó chuyên nghiệp.

Theo tôi, xu hướng hiện nay là vừa tiếp tục hoàn thiện quy định quản lý, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm áp lực thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố môi trường theo hướng thực chất và sát thực tiễn hơn. Kế hoạch là cơ sở rất quan trọng, nhưng điều doanh nghiệp hướng tới cuối cùng vẫn là khả năng sẵn sàng ứng phó trong thực tế.

Sự cố không đi theo ranh giới phòng ban, cần quản lý theo nguy cơ, đường lan truyền, hậu quả và năng lực ứng phó; kế hoạch không phải sản phẩm cuối cùng, năng lực sẵn sàng ứng phó mới là mục tiêu cuối cùng.

Bảo vệ môi trường cần bắt đầu từ nhận thức đúng

PV: Theo ông, điều quan trọng nhất hiện nay là hoàn thiện quy định hay nâng cao nhận thức trong công tác ứng phó sự cố môi trường?

Ông Phạm Văn Sơn:

Tôi cho rằng cả hai đều quan trọng, nhưng trước hết vẫn là nhận thức. Khi nhận thức đúng, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc phòng ngừa rủi ro. Các lực lượng tham gia ứng phó cũng sẽ nhìn nhận sự cố theo hướng tổng thể và phối hợp hiệu quả hơn.

Trong quá trình làm việc với nhiều doanh nghiệp và địa phương, tôi thấy rằng công tác bảo vệ môi trường không chỉ bắt đầu từ hồ sơ hay thủ tục, mà quan trọng hơn là nhận thức về nguy cơ và trách nhiệm ứng phó thực tế.

Việc có nhiều kế hoạch chuyên ngành cũng đặt ra yêu cầu cần tăng cường tính thực tiễn và khả năng vận hành trong quá trình ứng phó. Đồng thời, cần chú trọng hơn đến việc đánh giá đầy đủ các nguy cơ và kịch bản lan truyền rủi ro trong thực tế. Theo tôi, việc tăng cường tính liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành sẽ góp phần nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố môi trường trong thực tế.

Dầu, hóa chất, chất thải hay nước chữa cháy nhiễm độc có thể là những tác nhân khác nhau, nhưng điều cần quan tâm nhất vẫn là khả năng kiểm soát nguy cơ, hạn chế phát tán ô nhiễm và bảo vệ con người, môi trường khi sự cố xảy ra. Nếu làm tốt điều đó, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong công tác chuẩn bị, địa phương sẽ chủ động hơn trong điều phối lực lượng và công tác bảo vệ môi trường cũng sẽ đạt hiệu quả thực chất hơn.

Từ góc nhìn thực tiễn ứng phó sự cố, ông Phạm Văn Sơn cho rằng, có thể nghiên cứu theo hướng tăng cường tính phối hợp và liên thông giữa các kế hoạch chuyên ngành, nhằm hỗ trợ tốt hơn cho công tác tổ chức ứng phó tại cơ sở và địa phương. Theo doanh nghiệp, cách tiếp cận liên thông sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng chuyên môn, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho công tác triển khai ứng phó trong thực tế. Vấn đề cốt lõi không nằm ở số lượng kế hoạch được xây dựng, mà là khả năng nhận diện nguy cơ, đánh giá đầy đủ kịch bản rủi ro, chuẩn bị lực lượng, vật tư, thiết bị và cơ chế phối hợp phù hợp khi sự cố xảy ra. Trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao, việc tăng cường phối hợp liên ngành, tinh gọn thủ tục hành chính và nâng cao tính thực chất trong công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường được xem là hướng đi cần thiết nhằm bảo vệ tốt hơn môi trường, nguồn nước và sức khỏe cộng đồng.

Top of Form

Bottom of Form

 

Hồng Minh