PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ: Đột phá tài chính sinh thái từ mô hình kinh tế - sinh thái

PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ: Đột phá tài chính sinh thái từ mô hình kinh tế - sinh thái

Thứ sáu, 6/3/2026, 07:00 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và thực hiện các cam kết phát triển bền vững, PGS,TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho rằng cần chuyển sang mô hình kinh tế - sinh thái, tích hợp vốn tự nhiên vào hoạch định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính. Theo ông, chỉ khi tài sản thiên nhiên được hạch toán đầy đủ và rủi ro sinh thái được nội bộ hóa trong chính sách, nền kinh tế mới có thể bảo đảm ổn định vĩ mô và phát triển dài hạn.

Khắc phục “điểm mù” của GDP, tích hợp vốn tự nhiên vào mô hình kinh tế - sinh thái

Phát biểu tại Hội thảo “Tài chính cho thiên nhiên”, PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường nhìn nhận tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhiều năm qua đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, áp lực suy thoái môi trường, ô nhiễm không khí, cạn kiệt tài nguyên và rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, đặt ra thách thức lớn đối với ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.

img_3117_1772639640.jpg
PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ tại Hội thảo "Tài chính cho thiên nhiên" do Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 4/3/2026

Theo phân tích của PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, cách tiếp cận tăng trưởng dựa thuần túy vào GDP đang bộc lộ những “điểm mù” nghiêm trọng trong hoạch định chính sách. GDP chỉ đo lường các giao dịch trên thị trường chính thức, định giá thiên nhiên bằng “0” và bỏ qua sự suy thoái sinh thái. Khi vốn tự nhiên không được hạch toán như một tài sản, nền kinh tế có thể tăng trưởng trên danh nghĩa nhưng thực chất lại hao mòn nền tảng phát triển dài hạn.

Hệ quả của cách tiếp cận này là rủi ro bị định giá sai, nguồn vốn phân bổ lệch hướng và thâm hụt hệ sinh thái ngày càng trầm trọng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển dịch từ mục tiêu tăng trưởng GDP ngắn hạn sang đo lường sự giàu có toàn diện, trong đó vốn tự nhiên được coi là tài sản cơ sở của nền kinh tế.

Về giải pháp phương pháp luận, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ đề xuất mô hình tích hợp kinh tế - sinh thái dựa trên khung cân bằng tổng thể, cho phép tính toán động đệ quy. Điểm mới của cách tiếp cận này là tích hợp Kế toán Vệ tinh và nhúng trực tiếp Hệ thống Hạch toán Kinh tế - Môi trường (SEEA) vào mô hình, qua đó khắc phục hạn chế của Ma trận Hạch toán Xã hội truyền thống.

Việc hạch toán này cho phép lượng hóa sự cạn kiệt của các tài sản tự nhiên như rừng, nước, khoáng sản; đồng thời giảm rào cản phân tích dữ liệu, cung cấp các dự báo chính xác và đáng tin cậy hơn cho quá trình xây dựng chính sách.

Ứng dụng vào bối cảnh Việt Nam cho thấy xu hướng đáng lo ngại khi tỷ lệ vùng đệm không gian và đất chưa sử dụng đã giảm mạnh từ 6,52% xuống còn 2,88%. Điều này đồng nghĩa mọi hoạt động phát triển mới gần như phải đánh đổi trực tiếp với không gian sinh thái còn lại.

Trong bối cảnh đó, mô hình kinh tế - sinh thái chỉ ra rằng việc áp dụng thuế carbon một cách quyết liệt không chỉ giúp giảm phát thải mà còn tạo ra không gian tài khóa đáng kể. Theo đó, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, chính nguồn thu từ thuế carbon có thể giúp Việt Nam giảm quỹ đạo nợ công từ mức 60% xuống còn 38,8% GDP vào năm 2030, qua đó ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng nợ trong quá trình đầu tư cho hạ tầng xanh.

Bên cạnh cải cách thuế carbon, PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ khẳng định yêu cầu nội bộ hóa rủi ro sinh thái vào hệ thống tài chính. Từ đó, ngân hàng và các bộ, ngành cần đưa đánh giá rủi ro môi trường vào các quyết định thẩm định vốn và quản lý nợ công, nhằm tránh tích tụ rủi ro dài hạn trong nền kinh tế.

Ông đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải xóa bỏ phân mảnh dữ liệu giữa các bộ, ngành; tăng đầu tư cho viễn thám và số hóa đất đai để vận hành hiệu quả các mô hình IEEM/SEEA. Theo ông, dữ liệu đồng bộ và minh bạch là nền tảng để hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và quản lý tài nguyên hiệu quả.

Hoàn thiện thể chế kinh tế xanh

PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng Việt Nam đang bước vào giai đoạn cải cách thể chế mang tính hệ thống, trong đó kinh tế xanh và thị trường carbon không còn dừng ở định hướng mà đã trở thành cấu phần vận hành cụ thể của nền kinh tế.

img_3126_1772639849.jpg
Các đại biểu tham dự Hội thảo

Một trong những minh chứng điển hình là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Năm 2024, nguồn thu từ PFES đạt 3.481,3 tỷ đồng (khoảng 131,5 triệu USD), tạo nguồn lực trực tiếp chi trả cho các chủ rừng. Cơ chế này không chỉ góp phần duy trì sinh kế dựa vào rừng và nâng cao an sinh xã hội, mà còn thể hiện cách tiếp cận định giá đúng tài nguyên thiên nhiên, thay vì coi giá trị hệ sinh thái bằng 0 như trong phương pháp tính truyền thống.

Bên cạnh PFES, Việt Nam đã ban hành Danh mục Phân loại Xanh theo Quyết định 21/2025/QĐ-TTg, xác định 45 loại hình dự án thuộc 7 nhóm ngành được công nhận là “xanh”. Theo phân tích của PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn hóa tiêu chí, tạo cơ sở pháp lý cho cấp tín dụng xanh và phát hành trái phiếu xanh, đồng thời hạn chế tình trạng “tẩy xanh”, bảo đảm dòng vốn thực sự chảy vào các hoạt động có đóng góp môi trường rõ ràng và có thể đo lường.

Khuyến nghị mang tính chiến lược, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi nhận thức trong phát triển kinh tế; cải cách tài khóa theo hướng áp dụng thuế carbon và dần xóa bỏ các khoản trợ cấp cho năng lượng hóa thạch và nông nghiệp thâm dụng tài nguyên; tích hợp rủi ro sinh thái vào hệ thống tài chính; đồng thời xây dựng hệ thống chỉ số đo lường tăng trưởng có tính đến sức khỏe hệ sinh thái.

Theo ông, chỉ khi vốn tự nhiên được coi là tài sản nền tảng của nền kinh tế và được hạch toán đầy đủ trong các quyết định chính sách, Việt Nam mới có thể bảo đảm quỹ đạo phát triển bền vững trong dài hạn.

 

Khánh Linh