Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã được khẳng định là nền tảng và động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi cả nước đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu củng cố và phát huy sức mạnh đoàn kết càng trở nên cấp thiết. Bài viết của Ths. Phạm Thị Bích Ngọc, Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình làm rõ các nguyên tắc cốt lõi của tư tưởng đoàn kết: đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết rộng rãi toàn diện và hướng tới mục tiêu chung của dân tộc. Bài viết đồng thời phân tích những thách thức mới như chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, nguy cơ chia rẽ xã hội. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy đại đoàn kết gắn với xây dựng chính quyền tinh gọn, củng cố niềm tin nhân dân và phát huy dân chủ trong giai đoạn mới.
Từ ngàn đời, truyền thống đoàn kết đã trở thành giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam, được đúc kết qua ca dao, tục ngữ và lịch sử dựng nước, giữ nước. Kế thừa và phát triển truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng tầm thành tư tưởng chiến lược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.Thành công, thành công, đại thành công”. Theo Người, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là sự kết tinh giữa truyền thống dân tộc và học thuyết Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Thực tiễn hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp, mở ra giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về đổi mới mô hình quản trị quốc gia và quản trị địa phương. Một trong những điểm nhấn quan trọng là: thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; sắp xếp, sát nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm tối ưu nguồn lực phát triển; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết có nội dung vô cùng phong phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực, song có thể khái quát ở những vấn đề sau:
Một là, Đoàn kết là sức mạnh. Nhận thức rõ chân lý “đẩy thuyền đi là dân, mà lật thuyền cũng là dân”; trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”; phát huy những giá trị cao đẹp, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn nhằm chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, chính đáng nhưng mang tính tự phát của quần chúng thành sự tự giác, có tổ chức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì độc lập dân tộc, vì tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho mọi người. Chính đường lối gây dựng, xây dựng và không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mốc son đánh dấu sự tổng kết chân lý về tầm quan trọng của việc phát huy khối đại đoàn kết dân tộc được thể hiện qua Chính cương vắn tắt; Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và thông qua trong Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930. Trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Bác nói: Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập... Đoàn kết là sức mạnh. Tinh thần này được người đề cập một cách nhất quán, xuyên suốt. Một dân tộc biết đoàn kết là một dân tộc biết phát huy nội lực, phát huy sức mạnh của chính mình.
Hai là, Đoàn kết rộng rãi và toàn diện. Xác định sức mạnh của dân tộc trước hết nằm trong sự cố kết đồng tâm, hiệp lực của toàn dân. Chính vì vậy, bên cạnh việc xác định đoàn kết là nhiệm vụ thường trực, thường xuyên của cách mạng. Người còn nhất quán tinh thần chủ động mở rộng lực lượng cách mạng một cách rộng rãi, không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo. Trong tư tưởng của Người, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân không thể chỉ dùng lực lượng, sức mạnh của giai cấp này để đánh đuổi giai cấp khác mà phải tập hợp sức mạnh của cả dân tộc, của nhiều giai cấp, giai tầng. Một sự thật là, khi đất nước còn dưới ách áp bức của đế quốc, thực dân thì dẫu là tư bản, địa chủ, thợ thuyền hay dân cày, đều cảm thấy cái ách nặng nề đế quốc là không thể nào sống được. Vì lẽ đó, lực lượng cách mạng không thể bó hẹp “công – nông liên hiệp” mà là toàn thể nhân dân liên hiệp.
Ba là, nỗ lực phấn đấu vì mục đích chung là nguyên tắc cơ bản để thực hành chiến lược đoàn kết. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần đoàn kết và trên thực tế Người đã thành công trong việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc ngay cả trong những giai đoạn khó khăn, hiểm nghèo nhất. Trong những hoàn cảnh khác nhau, ở những đối tượng khác nhau nhưng Người tìm được lợi ích chung, những nét tương đồng giữa các chủ thể tham gia khối đoàn kết – đó chính là lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, trong đó có lợi ích của tất cả mọi người. Trong thời ký cách mạng dân tộc dân chủ, đó là độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách nô dịch, áp bức ngoại bang.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được khẳng định là đường lối nhất quán trong 40 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Kinh tế đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng; văn hóa xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi; quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao...
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước theo tinh thần Nghị quyết mà Đại hội XIV của Đảng đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta những nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang. Đảng ta chỉ rõ:“Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ngày càng được đổi mới và nâng cao; nền tảng tư tưởng, lý luận được bổ sung, phát triển toàn diện. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả nổi bật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, năng lực điều hành và hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược: Đổi mới, xây dựng và thi hành pháp luật; đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế; đột phá về phát triển giáo dục, đào tạo; về chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân... đang mở ra cơ hội lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.”(1). Trong đó, “Các thế lực thù địch cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”(2).
Từ bài học đoàn kết ở Hồ Chí Minh, từ điều kiện cụ thể nước ta giai đoạn hiện nay, vấn đề đoàn kết dân tộc có thể nhìn nhận ở nhiều phương diện:
Thứ nhất, mở rộng lực lượng đoàn kết trong xã hội. Đoàn kết phải thích ứng với sự thay đổi về không gian hành chính và cộng đồng dân cư. Việc sát nhập tỉnh không chỉ là thay đổi về địa giới mà còn là sự hội tụ của nhiều đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau. Nếu không làm tốt công tác tư tưởng và vận động quần chúng, dễ phát sinh tâm lý cục bộ địa phương, ảnh hưởng đến sự đồng thuận xã hội. Xác định lực lượng để đoàn kết, cần căn cứ trên những quan hệ xã hội hiện thực và cụ thể với nhiều chiều khía cạnh khác nhau trong một thể thống nhất. Đoàn kết chính là xóa bỏ các hàng rào ngăn cách, những mặc cảm, định kiến để con người chia sẻ đồng cảm, cộng tác, liên kết cùng nhau. Con người chỉ là con người trong quan hệ xã hội và bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, từ quan hệ nào đó còn chưa được giải tỏa, người ta khó có thể có tiếng nói đồng thuận. Do đó, lực lượng đoàn kết cần được nhìn nhận từ mỗi góc độ, mối quan hệ. Thực hiện khối đoàn kết toàn dân tộc chính là thực hiện đoàn kết trên tất cả các mặt của đời sống, kinh tế, xã hội... của con người.
Thứ hai, phương pháp để tập hợp lực lượng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, các quan hệ xã hội đã trở nên cởi mở và dân chủ, phương pháp để tập hợp lực lượng cũng cần sự thay đổi. Một nét đặc trưng của con người Việt Nam là khi nước nhà có giặc ngoại xâm thì mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được đặt lên hàng đầu. Vì lẽ đó, trong cách mạng dân tộc dân chủ, Bác Hồ luôn lấy đó làm mục tiêu, làm điểm tương đồng để kêu gọi các lực lượng đoàn kết. Khi đã có hòa bình, độc lập thì sự quan tâm của con người cũng được chuyển hướng. Sự đồng thuận cũa phải xây dựng dựa trên nguyên tắc “công bằng và bình đẳng, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp trong nhân dân”.
Thứ ba, đoàn kết gắn với xây dựng chính quyền tinh gọn, phục vụ nhân dân. Mô hình chính quyền hai cấp đòi hỏi bộ máy hoạt động hiệu quả hơn, gần dân hơn. Điều này chỉ đạt được khi củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Mọi sự quy tụ đều cần hạt nhân nòng cốt. Hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc hiện nay chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững được niềm tin trong dân là điều cốt yếu trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.(3)
Thứ tư, đoàn kết trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng. Các yếu tố mới như mạng xã hội, kinh tế số, giao lưu quốc tế vừa tạo cơ hội, vừa tiềm ẩn nguy cơ chia rẽ nếu không định hướng tốt. Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự cường của mọi tầng lớp nhân dân, chăm lo lợi ích vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân lao động – cơ sở để xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Yêu nước – là một giá trị tinh thần truyền thống tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng, Bác Hồ đã thành công trong việc khơi gợi và phát huy cao độ tinh thần ấy, biến nó thành sức mạnh quật khởi của dân tộc, tạo ra chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Trong điều kiện hiện nay, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo điều kiện để mỗi người, từng thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng sản xuất, mọi năng lực cũng chính là nội dung, cơ sở để thực hiện thành công khối đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới ở nước ta.
Nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tại Đại hội XIV, Đảng ta đã đề ra các nhiệm vụ của cách mạng trong tình hình mới. Trong đó, có nhiệm vụ hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội và tội phạm.
Tài liệu tham khảo:
(1). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
(2). Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2019, tr.20.
(3) Hồ Chí Minh: Sdd, t2,tr510