news

Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

Thứ ba, 2/8/2022, 10:07 (GMT+7)
logo Sự bùng nổ của Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã thúc đẩy mọi cơ quan, tổ chức phải có những hành động phù hợp để thực hiện chuyển đổi số nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động, tăng cường năng suất lao động. Trong đó, khâu quan trọng, mang tính tiền đề cho quá trình chuyển đổi số là việc số hóa cũng như quản lý thông tin dữ liệu. Không nằm ngoài xu hướng đó, là một đơn vị nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo (Tổng cụ Biển và Hải đảo Việt Nam) đã tiến hành số hóa thông tin, dữ liệu và xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn cho Viện. Ứng dụng được xây dựng trên cơ sở đánh giá phân tích nghiệp vụ, nhu cầu người dùng và được lập trình theo mô hình MVC, sử dụng ngôn ngữ lập trình C# với đầy đủ các tính năng quản lý hành chính nhân sự và dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn.

 

Bắt kịp xu thế thực hiện chuyển đổi số

Trên thực tế khái niệm chuyển đổi số đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XX cùng với sự ra đời của khoa học máy tính, nhưng chỉ đến khi Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư bùng nổ, chuyển đổi số mới trở nên phổ biến. Chuyển đổi số được hiểu một cách khái quát là chuyển đổi thông tin, dữ liệu từ dạng thông tin tương tự sang thông tin dạng kỹ thuật số từ đó thay đổi phương thức sử dụng, trao đổi, truyền dẫn, xử lý thông tin, trực tiếp thúc đẩy sự chuyển đổi phương thức giao tiếp, làm việc, điều hành, quản lý từ sử dụng sức người sang sử dụng các công cụ kỹ thuật số. Nói cách khác, chuyển đổi số là việc một tổ chức áp dụng công nghệ kỹ thuật số nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả, giá trị hoặc đổi mới. Trong đó, một trong những khâu quan trọng, thiết yếu nhất là việc số hóa và xây dựng công cụ quản lý toàn bộ thông tin, dữ liệu, tài liệu.

Từ thực tế nêu trên, để phục vụ cho quá trình chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, điều hành, thực hiện công việc, Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn với đầy đủ các tính năng quản lý người dùng, cấp phép truy cập, tiếp cận chỉnh sửa, tạo mới, khai thác dữ liệu,… Phần mềm được xây dựng trên cơ sở đánh giá toàn diện nhu cầu người dùng, khả năng đáp ứng, tương thích của hạ tầng kỹ thuật.

Việc xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn của Viện được dựa trên những phương pháp như sau: Điều tra, đánh giá nhu cầu người dùng: Thu thập thông tin về nhu cầu, thói quen của người dùng từ đó làm căn cứ xác định các tiện ích cần có cho ứng dụng; Điều tra, đánh giá mô hình quản lý, nghiệp vụ: Thu thập thông tin để xác định các nghiệp vụ cần triển khai, các luồng công việc cần xử lý; Tổng hợp thông tin, thiết kế và lập trình phần mềm.

Kết quả nghiên cứu

Trong năm 20217, Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo đã được tiếp nhận một số máy chủ cơ sở dữ liệu và thiết bị lưu trữ, hoạt động trên nền tảng ảo hóa Vmware với các máy chủ ảo hóa chạy hệ điều hành Windows server 2016 và cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2017. Do đó, các yêu cầu được đặt ra với ứng dụng quản lý bao gồm: Hệ thống cơ sở dữ liệu phải được xây dựng trên nền tảng Microsoft SQL Server 2017 và hoạt động trên hệ điều hành Windows Server 2016. Phải có khả năng tương thích ngược với các hệ điều hành, phiên bản SQL Server thấp hơn. Phải hoạt động được trên cơ sở mạng nội bộ của Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo. Phải có khả năng mở rộng, điều chỉnh để phù hợp với việc chia sẻ dữ liệu qua internet. Ứng dụng quản lý dữ liệu được thiết kế trên cơ sở mô hình MVC, sử dụng ngôn ngữ lập trình C#. Thiết kế của hệ thống phải đảm bảo các tiêu chuẩn bảo mật hiện hành, tương thích với hệ thống phần cứng Server, mạng.

Trên cơ sở đó, ứng dụng quản lý dữ liệu được thiết kế, lập trình bao gồm 3 module chính là:

Nhóm chức năng quản trị: Màn hình login; đăng ký và quản lý user; đăng ký và quản lý phòng ban; đăng ký và quản lý nhân viên; quản lý nhiệm vụ; phân quyền (user chỉ được truy xuất, tìm kiếm, lưu, update dữ liệu khi nhận được quyền phần mèmroval từ admin (Viện trưởng). Các hạng mục phân quyền sẽ theo từng loại dữ liệu với các quyền cơ bản sau: chỉ đọc, chỉ nhập, chỉ chỉnh sửa, đọc và xuất dữ liệu, toàn quyền).

 

Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

Hình 1. Giao diện quản lý dữ liệu hành chính, nhân sự

Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

Hình 2. Mô hình thiết kế quản lý dữ liệu phòng ban, người dùng

Nhóm chức năng tìm kiếm, quản lý dữ liệu:

Phần mềm quản lý hai nhóm dữ liệu chính là nhóm dữ liệu hành chính, nhân sự, phân quyền người dùng và dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn. Trong đó, mỗi một bản ghi dữ liệu trong cơ sở dữ liệu phải liên kết với một nhiệm vụ cụ thể, mỗi một bản ghi thông tin nhiệm vụ phải liên kết với người thực hiện, phòng ban phụ trách cụ thể được lưu trong nhóm dữ liệu về hành chính, nhân sự (Hình 2).

Đối với dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn, đây là nhóm dữ liệu chính cần quản lý của ứng dụng. Nhóm dữ liệu này được phân thành hai nhóm nhỏ hơn là nhóm thông tin đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn và nhóm dữ liệu điều tra, khảo sát. Nhóm thông tin đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn bao gồm toàn bộ thông tin chung về nhiệm vụ, nhân sự thực hiện, các hạng mục công việc và sản phẩm kèm theo của từng hạng mục, các cơ quan, tổ chức phối hợp…

Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

Hình 3.  Quản lý thông tin đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn

Nhóm dữ liệu điều tra, khảo sát bao gồm 6 nhóm dữ liệu chính với các loại dữ liệu con như sau:

  1. Nhóm Dữ liệu môi trường
    1. Dữ liệu tuyến điều tra khảo sát môi trường biển
    1. Dữ liệu điểm môi trường nước biển
    1. Dữ liệu điểm môi trường không khí
    1. Dữ liệu điểm nguồn thải
    1. Dữ liệu vùng môi trường nước biển
    1. Dữ liệu vùng môi trường trầm tích biển
    1. Dữ liệu nguồn phát thải dạng vùng (Như nhà máy, khu công nghiệp, cảng biển)
    1. Dữ liệu vùng nhận chìm vật chất
    1. Dữ liệu chuỗi điểm đo liên tục theo thời gian
    1. Dữ liệu tuyến đo liên tục theo thời gian môi trường nước biển
    1. Dữ liệu tuyến đo liên tục theo thời gian môi trường trầm tích biển
    1. Dữ liệu tuyến đo liên tục theo thời gian môi trường không khí
    1. File dữ liệu gốc
  1. Nhóm Dữ liệu khí tượng thủy văn biển
    1. Dữ liệu điểm đo liên tục khí tượng biển
    1. Dữ liệu điểm đo tức thời khí tượng biển
    1. Dữ liệu điểm đo liên tục hải văn
    1. Dữ liểu điểm đo tức thời hải văn
    1. Dữ liệu tái phân tích điểm khí tượng biển
    1. Dữ liệu tái phân tích điểm hải văn
    1. Dữ liệu nhiệt-muối-độ sâu (CTD)
    1. Dữ liệu điểm đo mực nước liên tục theo thời gian
    1. File dữ liệu gốc
  1. Nhóm Dữ liệu đa dạng sinh học
    1. Dữ liệu tuyến điều tra đa dạng sinh học
    1. Dữ liệu điểm điều tra đa dạng sinh học
    1. Dữ liệu điểm phân bố loài sinh vật
    1. Dữ liệu phân vùng mức độ đa dạng sinh học
    1. Dữ liệu phân vùng hệ sinh thái
    1. Dữ liệu phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học
    1. Dữ liệu phân vùng khai thác, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản
    1. File dữ liệu gốc
  1. Nhóm Dữ liệu địa lý, địa hình, địa chất
    1. Dữ liệu điểm địa hình
    1. Dữ liệu điểm đo địa hình
    1. Dữ liệu tuyến đo sâu thủy âm
    1. Dữ liệu đường mực nước triều cao lý thuyết
    1. Dữ liệu đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm thực đo
    1. Dữ liệu điểm mực nước triều cao trung bình nhiều năm thực đo
    1. Dữ liệu điểm khảo sát địa chất
    1. Dữ liệu điểm khảo sát địa mạo
    1. Dữ liệu vùng địa chất
    1. Dữ liệu vùng địa mạo
    1. Dữ liệu luồng tuyến hàng hải
    1. Dữ liệu phân vùng hành chính (xã, huyện, tỉnh, thôn, làng…)
    1. Dữ liệu vùng phân loại sử dụng đất
    1. Dữ liệu điểm cơ sở hạ tầng
    1. Dữ liệu đường giao thông
  1. Nhóm Dữ liệu phiếu điều tra
  1. Nhóm Dữ liệu kinh tế xã hội (Dân cư, kinh tế xã hội…)  

Bao gồm các chỉ số phát triển kinh tế xã hội theo xã, huyện, tỉnh

Hệ thống cho phép cài đặt linh hoạt thuộc tính cho từng loại dữ liệu cũng như cho phép cập nhật thuộc tính mới như những thông số, chỉ số chất lượng môi trường chưa được quan tâm trong thời điểm hiện tại nhưng có thể trở thành vấn đề trong tương lai. Với mỗi một bản ghi dữ liệu, sẽ có hai nhóm thuộc tính bao gồm nhóm thuộc tính bắt buộc phải có và nhóm thuộc tính tùy chọn.

 Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo 

Hình 4. Mô hình thiết kế quản lý dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn

Nhóm chức năng phân quyền:

Hệ thống cơ sở dữ liệu hoạt động trên nguyên tắc phân quyền đối với từng user. Mọi hành động làm thay đổi, chỉnh sửa, thêm mới, xóa dữ liệu đều phải thông qua phê duyệt yêu cầu của người quản trị (Hình 5). Kết quả thay đổi, chỉnh sửa, thêm mới, xóa dữ liệu được kiểm tra bởi người kiểm tra có chuyên môn tương ứng và được phê duyệt bởi người quản trị trước khi trình Viện trưởng phê duyệt chính thức chấp nhận đưa vào lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Khi nhận được yêu cầu phê duyệt dữ liệu, Viện trưởng có thể ủy quyền phê duyệt cho các Phó Viện trưởng và Chánh Văn phòng Viện.

Xây dựng ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn phục vụ quá trình chuyển đổi số tại Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo

Hình 5. Thiết kế phân quyền người dùng

Đôi lời kết

Việc thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng của Viện và theo yêu cầu của Lãnh đạo Bộ TN&MT, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng của Viện, trong đó việc xây dựng kế hoạch, quản lý và cơ sở dữ liệu kết quả hoạt động khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ thiết yếu nhằm đảm bảo duy trì và phát triển hoạt động khoa học công nghệ của Viện. Ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn của Viện được xây dựng trên nền tảng Microsoft SQL Server 2017, phần mềm quản lý được lập trình bằng ngôn ngữ C# và mô hình MVC, giao diện thiết kế thân thiện, dễ sử dụng. Việc đưa vào vận hành ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu này là cơ sở quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyên môn của Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo. Hiện nay, để đảm bảo yêu cầu bảo mật thông tin, ứng dụng chỉ hoạt động trong phạm vi mạng nội bộ của Viện, tuy nhiên trong quá trình thiết kế, nhóm xây dựng đã thiết kế và lập trình sẵn tính năng kết nối qua internet và sẽ được triển khai vào thời điểm phù hợp, khi đảm bảo xác định đầy đủ nguy cơ cũng như khả năng ứng phó trước các hành động tấn công qua mạng.

 

Phạm Minh Dương, Trần Thanh Hải, Nghiêm Thanh Hải

Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo