Trước áp lực ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên, Thanh Hóa đang từng bước thay đổi phương thức quản lý bằng khoa học công nghệ và dữ liệu số. Từ quan trắc tự động, AI đến kinh tế tuần hoàn, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang mở ra hướng phát triển xanh, hiện đại và bền vững cho địa phương.
Áp lực môi trường yêu cầu đổi mới tư duy quản lý
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế, Thanh Hóa đang phải đối mặt với nhiều sức ép lớn về môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Từ khu vực nông thôn đến đô thị, nhiều vấn đề môi trường ngày càng bộc lộ rõ như ô nhiễm chăn nuôi, rác thải sinh hoạt, khai thác tài nguyên trái phép, suy giảm chất lượng đất, ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu. Đặc biệt, thiên tai cực đoan, lũ quét, sạt lở đất và hạn hán diễn biến ngày càng khó lường đang tạo áp lực lớn lên công tác quản lý.
Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh hiện có 3 nhà máy xử lý rác thải với tổng công suất khoảng 720 tấn/ngày, cùng nhiều lò đốt và bãi chôn lấp. Tuy nhiên, lượng rác phát sinh ngày càng lớn, nhất là trong các dịp cao điểm. Riêng dịp Tết Nguyên đán 2026, lượng rác có thời điểm lên tới hơn 1.190 tấn/ngày, vượt xa công suất xử lý thiết kế, gây tồn đọng cục bộ tại nhiều địa phương.
Trong khi đó, công tác quản lý môi trường ở nhiều nơi vẫn còn thủ công, thiếu dữ liệu đồng bộ, việc giám sát ô nhiễm và tài nguyên chưa kịp thời. Không ít vi phạm chỉ được phát hiện khi hậu quả đã xảy ra.
Thực tế ấy đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi tư duy quản lý: từ “xử lý hậu quả” sang “phòng ngừa bằng công nghệ và dữ liệu”. Đó cũng chính là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 57-NQ/TW hướng tới khi xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng cho phát triển bền vững.
Công nghệ mở hướng mới cho xử lý rác thải và kinh tế tuần hoàn
Một trong những điểm sáng trong ứng dụng khoa học công nghệ vào bảo vệ môi trường tại Thanh Hóa là mô hình xử lý rác thải sinh hoạt của Công ty CP Vệ sinh môi trường Lam Sơn tại khu vực Thường Xuân.
Khác với phương thức chôn lấp truyền thống, hệ thống xử lý rác bằng men vi sinh của doanh nghiệp được đánh giá là một trong những mô hình xử lý hiện đại, thân thiện môi trường và có khả năng tái tạo tài nguyên từ rác thải.
Theo ông Nguyễn Duy Bình Giám đốc Công ty CP Vệ sinh môi trường Lam Sơn quy trình công nghệ gồm nhiều công đoạn khép kín từ xé bao, ủ vi sinh, đảo trộn đến phân loại và tái chế. Trong đó, công đoạn ủ vi sinh được xem là “trái tim” của hệ thống. Chế phẩm vi sinh được phun đều lên rác theo từng lớp để phân hủy xenlulo và chất hữu cơ. Sau khoảng 40 ngày xử lý và đảo trộn, rác được đưa lên hệ thống sàng để tách thành các nhóm: mùn hữu cơ, nhựa và nilon, chất đốt, vật liệu rắn như gạch đá.
“Sau xử lý, 1 tấn rác có thể tách được từ 300-400kg mùn hữu cơ, 150-200kg nhựa và nilon để tái chế, phần còn lại dùng làm chất đốt hoặc phụ gia xây dựng. Nhờ đó, lượng rác phải đốt giảm còn khoảng 30%”, ông Bình cho biết. Mỗi ngày, hệ thống có thể xử lý hơn 56 tấn rác sinh hoạt từ nhiều xã và cơ quan trên địa bàn huyện Thường Xuân (cũ) cùng khu vực lân cận. Điểm đáng chú ý là mô hình này không chỉ xử lý rác mà còn hình thành tư duy kinh tế tuần hoàn: biến rác thải thành nguyên liệu phục vụ nông nghiệp, chăn nuôi và tái chế nhựa.
Song song với đó, việc phân loại rác tại nguồn ở Thường Xuân cũng đang tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức cộng đồng. Rác hữu cơ và vô cơ được thu gom riêng theo lịch cố định. Tại các chợ dân sinh, hệ thống thùng chứa rác hữu cơ giúp hạn chế mùi hôi, giảm ruồi muỗi và cải thiện đáng kể môi trường sinh hoạt.
Không dừng ở xử lý vi sinh, doanh nghiệp còn triển khai mô hình ứng dụng giun ANC để xử lý rác hữu cơ. Theo tính toán, khoảng 12 tấn rác hữu cơ mỗi ngày có thể tạo ra 3,5-4 tấn phân hữu cơ sau xử lý. Toàn bộ quy trình không phát sinh khí thải độc hại, đồng thời tạo nguồn phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch. Đây được xem là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn mà Nghị quyết 57 đang thúc đẩy.
Một mô hình tiêu biểu khác cho tư duy kinh tế tuần hoàn gắn với đổi mới sáng tạo là sản phẩm tẩy rửa sinh học Fuwa3e của Công ty TNHH Công nghệ sinh học FUWA Biotech tại Thanh Hóa.
Từ nguồn phế phẩm nông nghiệp là vỏ dứa, vốn thường bị bỏ đi sau mỗi mùa thu hoạch, doanh nghiệp đã nghiên cứu công nghệ ngâm ủ enzyme sinh học để tạo ra các sản phẩm tẩy rửa an toàn, thân thiện với môi trường. Theo anh Lê Duy Hoàng, nhà sáng lập Fuwa3e, vỏ dứa được thu gom, kết hợp cùng đường vàng và nước sạch, sau đó lên men tự nhiên trong khoảng 3 tháng để tạo enzyme có khả năng phân hủy dầu mỡ, làm sạch vi khuẩn nhưng không gây hại cho da tay và môi trường nước.
Từ quy trình này, doanh nghiệp đã phát triển nhiều dòng sản phẩm như nước rửa chén, nước giặt, lau sàn, xịt khử mùi… đạt tiêu chuẩn OCOP 3-4 sao và xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế. Điều đáng chú ý là toàn bộ quy trình sản xuất gần như không tạo rác thải. Phần bã dứa sau chiết xuất tiếp tục được tái sử dụng làm phân hữu cơ hoặc thức ăn chăn nuôi. Doanh nghiệp cũng triển khai mô hình “trạm đong đầy”, khuyến khích người dân tái sử dụng chai nhựa thay vì dùng mới, góp phần giảm lượng rác thải nhựa ra môi trường.
Dữ liệu số và AI thay đổi cách quản lý môi trường
Không chỉ trong xử lý rác thải, khoa học công nghệ còn đang làm thay đổi phương thức quản lý tài nguyên và môi trường tại Thanh Hóa. Hiện nay, tỉnh đã lắp đặt 2 trạm quan trắc môi trường không khí tự động tại khu vực Nghi Sơn và Bỉm Sơn, hoạt động liên tục 24/24 giờ. Dữ liệu từ các trạm được truyền trực tiếp về Sở Nông nghiệp và Môi trường với tần suất 5 phút/lần, phục vụ giám sát chất lượng không khí và cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm.
Ngoài ra, toàn tỉnh hiện có 121 trạm quan trắc tự động tại các doanh nghiệp lớn, gồm: 38 trạm quan trắc nước thải, 83 trạm quan trắc khí thải. Nhiều doanh nghiệp lớn như Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhiệt điện Nghi Sơn, Xi măng Bỉm Sơn… đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động kết nối trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước. Nhờ đó, việc giám sát môi trường chuyển dần từ kiểm tra thủ công sang theo dõi bằng dữ liệu thời gian thực.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, công nghệ số cũng đang trở thành “tai mắt” hỗ trợ bảo vệ rừng. Từ năm 2020, Thanh Hóa đã lắp đặt 14 trạm camera giám sát cháy rừng tại các khu vực trọng điểm với khả năng quan sát khoảng 70.000 ha rừng. Các camera có thể quay 360 độ, phát hiện sớm đám cháy cả ngày lẫn đêm và truyền dữ liệu trực tiếp về trung tâm điều hành.
Theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, hệ thống này đã hỗ trợ phát hiện sớm 27 vụ cháy rừng trong thời gian qua, giúp giảm đáng kể nguy cơ cháy lan trên diện rộng. Cùng với camera, ngành kiểm lâm cũng đang triển khai ứng dụng flycam giám sát biến động rừng, phát hiện nhanh các hành vi xâm hại tài nguyên. Đây được xem là bước đột phá trong chuyển đổi số lĩnh vực lâm nghiệp, nhất là trong điều kiện diện tích rừng lớn, địa hình hiểm trở và lực lượng kiểm lâm còn mỏng.
Quản trị bằng dữ liệu
Không chỉ môi trường, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng chống thiên tai cũng đang tạo chuyển biến tích cực..
Tại hồ Cửa Đạt, công trình thủy lợi lớn của tỉnh, toàn bộ dữ liệu về lượng mưa, mực nước, vận hành cửa xả đều được cập nhật theo thời gian thực và truyền về trung tâm điều hành phòng chống thiên tai. Nhờ hệ thống này, việc dự báo, cảnh báo và điều hành hồ chứa trở nên nhanh chóng, chính xác hơn. Bên cạnh đó, các bản đồ số hóa về: ngập lụt, sạt lở đất, nguy cơ lũ quét, đê điều và hồ đập cũng đang hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý tài nguyên và ứng phó thiên tai.
Trong lĩnh vực y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa cũng đã đưa vào sử dụng hệ thống xử lý rác thải y tế công nghệ vi sóng hiện đại. Mỗi ngày, khoảng 200kg chất thải y tế nguy hại được xử lý bằng công nghệ nghiền cắt kết hợp sóng vi ba, giúp vô trùng hoàn toàn trước khi đưa ra môi trường. Quá trình xử lý diễn ra khép kín, không phát sinh khí độc hại, góp phần giảm nguy cơ lây nhiễm và ô nhiễm môi trường. Có thể thấy, từ quản lý rác thải, bảo vệ rừng, giám sát không khí đến phòng chống thiên tai, khoa học công nghệ đang từng bước thay đổi cách quản lý môi trường và tài nguyên tại Thanh Hóa.
Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết 57 cho thấy: công nghệ không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra tư duy phát triển mới, lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực và lấy phát triển bền vững làm mục tiêu. Đó cũng chính là con đường để Thanh Hóa từng bước chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, chủ động thích ứng với những thách thức môi trường trong tương lai.