Chủ động kịch bản tăng trưởng ngành nông nghiệp ứng phó xung đột Trung Đông

Chủ động kịch bản tăng trưởng ngành nông nghiệp ứng phó xung đột Trung Đông

Thứ sáu, 13/3/2026, 18:56 (GMT+7)
logo Xung đột tại Trung Đông đang làm gia tăng nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, kéo theo chi phí năng lượng và vận tải quốc tế tăng mạnh. Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang chủ động theo dõi sát diễn biến thị trường, xây dựng các kịch bản ứng phó và triển khai nhiều giải pháp nhằm hạn chế tác động, bảo đảm ổn định sản xuất và xuất khẩu của ngành.

Ngày 12/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị “Kịch bản tăng trưởng ngành ứng phó với xung đột Trung Đông năm 2026” nhằm đánh giá tác động của tình hình địa chính trị thế giới đến tăng trưởng ngành nông nghiệp và đề ra các giải pháp điều hành phù hợp để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng của ngành.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng chủ trì Hội nghị; tham dự có Thứ trưởng Thường trực Trịnh Việt Hùng, cùng các Thứ trưởng: Nguyễn Hoàng Hiệp, Nguyễn Thị Phương Hoa, Đặng Ngọc Điệp và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ.

3 kịch bản tác động đến ngành nông nghiệp trước tình hình xung đột Trung Đông 

Ông Lê Văn Thành, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, năm 2026 là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026-2030, thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong khi đó, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ở trong nước, trong khi sức chống chịu của nền kinh tế trước các yếu tố bất lợi từ bên ngoài chưa cao, vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong nội tại cần tiếp tục tập trung xử lý, dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu, tiếp tục diễn biến bất thường, ảnh hưởng nặng nề hơn. 

Thông tin chi tiết về sự ảnh hưởng của tình hình thế giới đến tăng trưởng ngành, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính nhấn mạnh, năm 2025, xuất khẩu NLTS sang khu vực Trung Đông đạt trên 1,74 tỷ USD (trong đó các mặt hàng chủ lực như, hạt điều 600 triệu USD, thủy sản 325 triệu USD, cà phê 300 triệu USD...), chiếm 2 - 2,2% tổng kim ngạch toàn Ngành. Như vậy, tác động trực tiếp đến tăng trưởng Ngành thông qua thị trường Trung Đông là hạn chế về mặt quy mô; tuy nhiên, tác động gián tiếp thông qua việc làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu NLTS của Việt Nam sang Trung đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.

Trong khi đó, giá dầu tăng, làm tăng chi phí vận tải và giá vật tư nông nghiệp, đặc biệt phân bón urê, giá dầu đối với tàu cá khai thác trên biển, chi phí xăng, dầu đối với phương tiện thu hoạch, vận chuyển hàng hóa nông sản (trong khi tại ĐBSCL đang bắt đầu thu hoạch vụ lúa Đông - Xuân). Dự báo sơ bộ, chi phí sản xuất nông nghiệp tăng khoảng 3 - 5%. Bên cạnh đó, cước vận tải biển tăng 25-35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 7 - 14 ngày do tàu phải tránh khu vực rủi ro, làm giảm sức cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu (gỗ, thủy sản, nông sản).

dsc00600_1773304133.jpg
Bộ trưởng Trần Đức Thắng chủ trì Hội nghị

Trước bối cảnh trên, các đơn vị chức năng của Bộ cùng Viện Chiến lược và Chính sách NN và MT phối hợp với Cục Thống kê và các hiệp hội ngành hàng nghiên cứu, phân tích dự báo 3 kịch bản chủ yếu.

Trong kịch bản chiến tranh kéo dài khoảng 1 tháng, KNXK NLTS bị giảm khoảng hơn 1 tỷ USD (khoảng 182 triệu USD sang Trung Đông, 770 triệu USD sang Châu Âu và 91 triệu USD sang Châu Phi).

Với kịch bản xung đột kéo dài khoảng 3 tháng, tổng KNXK NLTS giảm khoảng 3-3,5 tỷ USD (xuất khẩu sang Trung Đông giảm khoảng 500-600 triệu USD, châu Âu giảm 1,5-1,6 tỷ USD và Bắc Phi giảm 200-250 triệu USD).

Trường hợp chiến tranh kéo dài 1 năm: XK sang Trung Đông gần như bị gián đoạn hoàn toàn, trong khi XK sang Châu Âu và Bắc Phi giảm ít nhất 50 - 60% (phần còn lại có thể vận chuyển theo con đường khác hoặc qua thị trường khác) làm tổng KNXK NLTS giảm 7-8 tỷ USD (bao gồm cả XK sang Châu Âu và Bắc Phi).

Tuy nhiên, theo ông Lê Văn Thành, đây cũng là cơ hội để Hiệp hội, doanh nghiệp, HTX và bà con nông dân tái cấu trúc lại ngành hàng theo hướng nâng cao chất lượng, thương hiệu; mở cửa các thị trường mới trong đó ưu tiên tập trung vào thị trường HALA. Đồng thời, sẵn sàng chuẩn bị các điều kiện để đẩy mạnh sản xuất ngay khi có tín hiệu ổn định địa chính trị và thị trường có dấu hiệu phục hồi trở lại.

Chủ động các nhóm giải pháp ứng phó biến động thị trường

Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho biết, trong lĩnh vực khai thác thủy sản, chi phí nhiên liệu hiện chiếm từ 40 - 60% tổng chi phí chuyến biển, tùy theo từng nghề khai thác. Trước áp lực chi phí tăng cao, cơ quan quản lý đề xuất ưu tiên phát triển trước các nghề khai thác tiêu tốn ít nhiên liệu. Đối với các nghề sử dụng nhiều nhiên liệu, giải pháp trước mắt là sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị và tàu thuyền, qua đó giúp ngư dân nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngắn hạn.

dsc00625_1773304261.jpg
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân

Ở lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, mặc dù các doanh nghiệp hiện chưa điều chỉnh tăng các phụ phí vận chuyển đối với thức ăn và con giống, song ngành đang theo dõi sát biến động giá xăng dầu. Cục Thủy sản và Kiểm ngư cảnh báo, nếu chi phí vận chuyển tăng theo giá nhiên liệu, giá đầu vào sản xuất sẽ tăng mạnh, gây áp lực lớn cho người nuôi. Bên cạnh đó, các hãng tàu quốc tế đã thông báo tăng chi phí vận chuyển container xuất khẩu lên khoảng 4.000 - 6.000 USD/container, tương đương mức tăng trong thời kỳ dịch COVID-19, khiến nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản phải thận trọng theo dõi diễn biến thị trường để có phương án ứng phó.

Trước những biến động trên, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề xuất một số kịch bản ứng phó tổng thể cho ngành. Trước mắt, ngành sẽ phối hợp với các hiệp hội để giữ ổn định giá vật tư đầu vào tại các vùng nuôi, hạn chế tác động đến sản xuất. Đồng thời, các nhà máy chế biến được khuyến nghị tăng cường thu mua và tạm trữ nguyên liệu, cùng với đó là đề xuất các gói tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực dự trữ, bảo đảm đầu ra cho người nuôi. Cục cũng sẽ theo dõi sát diễn biến thị trường để điều chỉnh thời vụ nuôi phù hợp, do chu kỳ chuẩn bị nguyên liệu sản xuất thường kéo dài từ 6 - 8 tháng.

Đối với lĩnh vực chăn nuôi và thú y, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y nhận định, giá ngô và đậu tương, hai nguyên liệu chính của thức ăn chăn nuôi đã tăng nhẹ, nhưng chưa gây ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên, nếu xung đột kéo dài, rủi ro đối với chi phí đầu vào sẽ gia tăng, bởi nguồn nguyên liệu nhập khẩu hiện chiếm hơn 50% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi trong nước. 

dsc00662_1773304295.jpg
Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y

Với thuốc thú y, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y cho biết, năng lực sản xuất trong nước vẫn được đánh giá khá tốt, do đó nếu xảy ra gián đoạn trong nhập khẩu vaccine, đây cũng có thể trở thành cơ hội để các doanh nghiệp trong nước mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cung ứng.

Trước những rủi ro tiềm ẩn, Cục Chăn nuôi và Thú y khuyến cáo các doanh nghiệp cần tối ưu hóa hệ thống logistics, lựa chọn phương án vận chuyển hợp lý và xây dựng các hợp đồng vận tải dài hạn nhằm giảm chi phí vận chuyển nguyên liệu. Đồng thời, khuyến khích các trang trại tận dụng công nghệ sinh học như hệ thống biogas để giảm chi phí năng lượng trong sản xuất. Với kịch bản gián đoạn nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu, ngành cần chủ động đa dạng hóa nguồn cung, mở rộng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ các thị trường khác như Ấn Độ và Đông Âu, đồng thời tăng cường xây dựng và duy trì kho dự trữ nguyên liệu trong nước để bảo đảm nguồn cung trong trường hợp các tuyến vận tải biển bị gián đoạn.

Về chiến lược dài hạn, bà Nguyễn Thu Thủy cho rằng cần đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu trong nước, đặc biệt là các cây ngô, đậu tương và các loại cây thức ăn chăn nuôi khác, qua đó nâng cao tính chủ động về nguồn nguyên liệu và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Đề xuất các giải pháp cụ thể cho ngành trồng trọt, Thứ trưởng Hoàng Trung khẳng định, cần tiếp tục phối hợp với các hiệp hội và doanh nghiệp để rà soát từng mặt hàng, duy trì và mở rộng các thị trường truyền thống, đồng thời tìm kiếm thêm thị trường mới nhằm giảm phụ thuộc vào một số khu vực nhất định. Thứ trưởng cũng nhấn mạnh cần ổn định giá phân bón phục vụ sản xuất trong nước, đồng thời triển khai hiệu quả các hướng dẫn sử dụng phân bón tiết kiệm, cân đối theo các chỉ đạo trước đây, qua đó góp phần giảm chi phí đầu vào cho nông dân.

dsc00745_1773304413.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung

Bên cạnh đó, ngành cần tăng cường làm việc trực tiếp với doanh nghiệp và hiệp hội, khuyến khích các nhà máy điều chỉnh giá bán ở mức hợp lý, tối ưu công suất sản xuất và linh hoạt điều chỉnh các đơn hàng xuất khẩu khi cần thiết. Theo Thứ trưởng, các chính sách hỗ trợ lớn về thuế, phí, tín dụng và các ưu đãi khác sẽ được triển khai theo định hướng chung của Chính phủ nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với mặt hàng phân bón, hiện không thuộc danh mục bình ổn giá, vì vậy cần có các giải pháp điều hành phù hợp để bảo đảm nguồn cung và ổn định sản xuất.

Theo phân tích của Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, khu vực đang xảy ra chiến sự không phải là vùng sản xuất nông nghiệp lớn, do đó nguồn cung nông sản toàn cầu về cơ bản không bị suy giảm. Điều này đồng nghĩa với việc các quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ vẫn duy trì sản lượng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong khi Việt Nam cũng phải chịu tác động tương tự về chi phí đầu vào như giá nhiên liệu, vận tải hay logistics. Vì vậy, áp lực cạnh tranh đối với nông nghiệp Việt Nam có thể gia tăng trong thời gian tới.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng lưu ý các đơn vị cần tính toán kịch bản tác động trong thời gian dài thay vì chỉ dự báo ngắn hạn. Theo ông, dù có những nhận định cho rằng xung đột có thể sớm kết thúc, nhưng thực tế các yếu tố bất ổn trong khu vực có thể kéo dài và tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, thương mại và chi phí logistics toàn cầu. Đặc biệt, nông nghiệp là ngành có độ trễ lớn trong sản xuất, một quyết định về đầu vào hiện nay có thể tác động đến kết quả sản xuất sau 6 tháng hoặc cả một vụ sản xuất. Do đó, các kịch bản cần tính toán tác động trong cả năm để chủ động phương án điều hành.

dsc00718_1773304464.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp

Về giải pháp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đề nghị một trong những vấn đề cần quan tâm là logistics, bao gồm việc làm việc với các hãng tàu để ưu tiên vận chuyển hàng nông sản xuất nhập khẩu, đồng thời nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ chi phí logistics trong bối cảnh chi phí vận tải có thể gia tăng do biến động quốc tế.

Thứ trưởng cũng đề nghị nghiên cứu các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu, như gia hạn thời hạn vay vốn đối với những doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường, đồng thời xem xét cơ chế hỗ trợ bảo hiểm xuất khẩu đối với các tuyến vận tải có rủi ro cao nhằm giúp doanh nghiệp yên tâm duy trì hoạt động.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng: Chủ động kịch bản tăng trưởng ngành, thiết lập cơ chế báo cáo hàng tháng để ứng phó biến động

Phát biểu kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh yêu cầu các đơn vị chủ động theo dõi, đánh giá sát tình hình, đồng thời thiết lập cơ chế báo cáo định kỳ hàng tháng để kịp thời tham mưu giải pháp điều hành.

dsc00784_1773304508.jpg
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng

Theo Bộ trưởng, ngành đang phải đối mặt với nhiều yếu tố tác động đan xen như xung đột quốc tế, chính sách thuế đối ứng của Mỹ, biến động thị trường cùng với rủi ro thiên tai, bão lũ. Những yếu tố này có thể thay đổi nhanh theo từng thời điểm, vì vậy công tác theo dõi, cập nhật và đánh giá tình hình cần được thực hiện thường xuyên và kịp thời hơn.

Trong bối cảnh đó, Bộ trưởng yêu cầu từ nay cần duy trì cơ chế báo cáo định kỳ hàng tháng nhằm cập nhật diễn biến mới và đề xuất giải pháp xử lý kịp thời. “Mỗi tháng có một diễn biến khác nhau, vì vậy cần có báo cáo ngắn gọn để nắm bắt tình hình và đưa ra giải pháp xử lý những vấn đề đang đặt ra trong từng thời điểm”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề nghị các đơn vị nghiên cứu đồng thời hai nhóm giải pháp: giải pháp trước mắt để ứng phó với các biến động đang diễn ra và giải pháp dài hạn nhằm tạo nền tảng phát triển ổn định, bền vững cho ngành.

Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến các chủ thể trong chuỗi giá trị, từ người dân đến doanh nghiệp, nhằm xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích và bảo đảm sự ổn định của thị trường.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho rằng tình trạng phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất nông nghiệp là vấn đề cần được các đơn vị nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm ra giải pháp căn cơ. Theo Bộ trưởng, đối với những mặt hàng trong nước có khả năng chủ động sản xuất, cần tính toán các cơ chế, chính sách phù hợp để từng bước phát triển nguồn cung trong nước. Nếu làm được điều này, không chỉ góp phần giảm áp lực nhập khẩu mà còn mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành, đồng thời tạo thêm việc làm và nâng cao giá trị gia tăng cho khu vực nông nghiệp.

Từ thực tế đó, Bộ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu chú trọng phát triển thị trường nội địa gắn với xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam. Theo ông, khi các yếu tố đầu vào của sản xuất được tổ chức hợp lý, chi phí được kiểm soát tốt hơn và giá trị sản phẩm được nâng cao thông qua chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường, người sản xuất sẽ được hưởng lợi nhiều hơn trong toàn bộ chuỗi giá trị nông sản. Điều này không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn tạo nền tảng để ngành nông nghiệp phát triển ổn định và bền vững hơn trong dài hạn.

Khánh Linh