news
Ứng dụng tổ hợp các phương pháp địa vật lý xác định đới khoáng hóa ẩn sâu khu Tây, mỏ đồng Sin Quyền, Bát Xát, Lào Cai 

Ứng dụng tổ hợp các phương pháp địa vật lý xác định đới khoáng hóa ẩn sâu khu Tây, mỏ đồng Sin Quyền, Bát Xát, Lào Cai 

12/01/2026
Những kết quả thăm dò quặng ẩn sâu trong những năm gần đây trên thế giới đã phát hiện được rất nhiều đới khoáng hóa có giá trị nằm ẩn dưới các đối tượng đã được phát hiện trước đây. Trong đó, việc nghiên cứu các cấu trúc khống chế quặng, và các kênh dẫn thường liên quan chặt chẽ với các đứt gãy. Để nghiên cứu các đối tượng này, thì các phương pháp địa vật lý đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, các phương pháp địa vật lý thường chỉ nhạy cảm đối với một tham số vật lý nhất định của đất đá, ngoài ra chiều sâu và độ phân giải của các phương pháp là khác nhau. Đối với nhiệm vụ xác định đới khoáng hóa ẩn sâu khu Tây mỏ đồng Sin Quyền chúng tôi lựa chọn áp dụng tổ hợp ba phương pháp thăm dò từ mặt đất, từ tellua và phân cực kích thích. Phương pháp từ proton được tiến hành đầu tiên trong các phương pháp địa vật lý. Mục đích chính là khoanh định được các đới dị thường liên quan đến trường quặng trên diện tích khảo sát để làm cơ sở định hướng cho thiết kế mạng lưới khảo sát các phương pháp s
  • Nghiên cứu giải pháp nâng cao ổn định của bờ dốc đất sét lẫn dăm sạn ở dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 2, đoạn tuyến từ km 284+600 đến km 285+995

    Nghiên cứu giải pháp nâng cao ổn định của bờ dốc đất sét lẫn dăm sạn ở dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 2, đoạn tuyến từ km 284+600 đến km 285+995

    Quốc lộ 2, TP. Hà Giang, tỉnh Hà Giang đoạn tuyến từ km 284+600 đến km 285+995 đi qua địa hình là vùng núi có nhiều mặt cắt có chiều sâu đào lớn nhất khoảng 33 m nguy cơ sạt lở cao. Hơn nữa, các lớp đất tầng phủ có nguồn gốc sườn, tàn tích với thành phần là sét lẫn dăm sạn, phía dưới là lớp đá phiến sét với cấu trúc phân thành các lớp mỏng với thế nằm dốc ra phía nền đường, gây bất lợi về mặt ổn định. Các giải phải đã được nghiên cứu để nâng cao ổn định của bờ dốc đất: Thứ nhất, là đào ngả mái và bảo vệ bề mặt; thứ hai, sử dụng neo dự ứng lực kết hợp với đinh đất và khung bê tông cốt thép; thứ ba, sử dụng hệ lưới cường độ cao. Bài báo đã cung cấp thêm thông tin về các phải pháp nâng cao ổn định bờ dốc đất sét lẫn sạn cho người đọc cũng như kỹ sư thiết kế công trình.
  • Khảo sát hải lưu vòng Nam Cực để xác định nguyên nhân băng tan

    Khảo sát hải lưu vòng Nam Cực để xác định nguyên nhân băng tan

    Ngày 13/11, Tổ chức Nghiên cứu công nghiệp và khoa học Khối thịnh vượng chung (CSIRO) cho biết trong những ngày tới, các nhà khoa học Australia sẽ bắt đầu hải trình nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với dòng hải lưu mạnh nhất thế giới.
  • Thay đổi chất lượng sinh cảnh trong hệ sinh thái tại rừng ngập mặn Cần Giờ 

    Thay đổi chất lượng sinh cảnh trong hệ sinh thái tại rừng ngập mặn Cần Giờ 

    Chất lượng sinh cảnh thể hiện trạng thái rừng ngập mặn (RNM). Do đó, đánh giá chất lượng sinh cảnh cần thiết được thực hiện để có thể thấy rõ diễn tiến về chất lượng của RNM theo không gian và thời gian. Nhằm giúp hỗ trợ đánh giá về RNM, nghiên cứu này được thực hiện tại Cần Giờ. Trong đó, nghiên cứu áp dụng công cụ InVEST để mô phỏng chất lượng sinh cảnh theo không gian và thời gian. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng sinh cảnh theo không gian và thời gian. Trong đó, các vùng ven biển dễ bị tác động của xói mòn và sạc lở nên chất lượng sinh cảnh kém hơn so với các khu vực bên trong rừng. Nghiên cứu cho thấy công cụ InVEST có thể hữu hiệu trong việc đánh giá thay đổi chất lượng sinh cảnh và có thể áp dụng cho các trường hợp tương tự. 
  • Ứng dụng công cụ InVEST để tính toán carbon xanh tại rừng ngập mặn Cần Giờ 

    Ứng dụng công cụ InVEST để tính toán carbon xanh tại rừng ngập mặn Cần Giờ 

    Carbon xanh là lượng Carbon lưu giữ trong hệ sinh thái biển và ven biển: Rừng ngập mặn, đầm lầy thủy triều và cỏ biển. Việc xác định lượng carbon theo không gian gặp khó khăn do thiếu công cụ tính toán. Vì vậy, nghiên cứu đã áp dụng công cụ InVEST, bản đồ bao phủ và sử dụng đất kết hợp với dữ liệu đo đạc thực tế để tính toán carbon xanh tại rừng ngập mặn Cần Giờ. Nghiên cứu tập trung tính toán carbon xanh 3 giai đoạn: từ 2000-2007, 2007-2014 và 2014-2024. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở rừng ngập mặn Cần Giờ, giai đoạn 2000-2007 đã tích lũy được 1.532.999 Mg và không phát thải, giai đoạn 2007-2014 tích lũy được 1.551.406 Mg và phát thải 678.127 Mg, giai đoạn 2014-2024 tích lũy được 2.163.914 Mg, phát thải 409.740 Mg. Carbon cô lập được trong năm 2000, 2007, 2014 và 2024 lần lượt là: 10.642.984 Mg, 12.175.983 Mg, 13.049.264 Mg và 14.803.438 Mg. Quá trình phát thải cho thấy carbon xanh thay đổi theo không gian và thời gian.
  • Tham vấn ý kiến cộng đồng trong xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí tỉnh Bến Tre

    Tham vấn ý kiến cộng đồng trong xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí tỉnh Bến Tre

    Phát triển kinh tế là một trong những nguyên nhân gây sức ép lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường không khí. Chất lượng môi trường không khí tác động rất lớn đến cuộc sống của người dân. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và lấy ý kiến 183 hộ gia đình, 54 cơ quan, đơn vị quản lý, 89 doanh nghiệp, cơ sở phát sinh khí thải trên địa bàn tỉnh để lấy ý kiến về hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và mức sẵn lòng chi trả cho các giải pháp bảo vệ môi trường không khí tỉnh Bến Tre. Qua đó, nghiên cứu đã sử dụng phần mềm SPSS để xử lý 326 phiếu phỏng vấn này. Kết quả cho thấy, ô nhiễm không khí có tác động tiêu cực đến sức khỏe của người dân. Công tác quản lý và xử lý ô nhiễm không khí trên địa bàn tỉnh đã được cơ quan quản lý quan tâm, phối hợp với các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh thực hiện tốt.
  • Chế tạo máy hứng tự động sử dụng màn hình cảm ứng HMI phục vụ thực nghiệm hóa học các hợp chất thiên nhiên

    Chế tạo máy hứng tự động sử dụng màn hình cảm ứng HMI phục vụ thực nghiệm hóa học các hợp chất thiên nhiên

    Hứng hóa chất từ cột sắc ký là một công việc chiếm phần lớn thời gian cho người làm thực nghiệm hóa học các hợp chất thiên nhiên. Ở các quốc gia phát triển, công việc này được thực hiện bởi các thiết bị hứng tự động trong khi ở Việt Nam, người làm thực nghiệm vẫn còn thao tác thủ công (1). Nhu cầu về một thiết bị hứng tự động có khả năng thay thế người làm thực nghiệm trong các thao tác hứng hóa chất thực sự rất cấp thiết trong việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên. Trong bài báo này, chúng tôi công bố công trình chế tạo máy hứng tự động sử dụng màn hình cảm ứng HMI, có khả năng thay thế người làm thực nghiệm trong các thao tác hứng hóa chất từ cột sắc ký. Máy được thiết kế nhỏ gọn phù hợp quy phòng thí nghiệm với chi phí sản xuất thấp. Sau khi hoàn thành, máy được gửi đến các trung tâm nghiên cứu liên quan để thử nghiệm tính hiệu quả và đã nhận được những đánh giá tích cực.
  • Báo động về tình trạng tan chảy hàng loạt thềm băng ở Nam Cực

    Báo động về tình trạng tan chảy hàng loạt thềm băng ở Nam Cực

    Các nhà khoa học ước tính có đến 71 trong số 162 thềm băng ở Nam Cực đã giảm khối lượng trong giai đoạn từ năm 1997 đến 2021, khiến 66,9 nghìn tỷ tấn nước ngọt chảy vào đại dương.
  • Nguy cơ các dòng sông băng biến mất

    Nguy cơ các dòng sông băng biến mất

    Một nửa số sông băng trên Trái đất sẽ biến mất vào cuối thế kỷ này. Đây là nhận định đáng báo động của giới chuyên gia môi trường, trong đó họ chỉ rõ thủ phạm không ai khác là tình trạng ấm lên toàn cầu.
  • Phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về tài nguyên địa chất và khoáng sản - Hiện trạng và đề xuất

    Phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về tài nguyên địa chất và khoáng sản - Hiện trạng và đề xuất

    Tóm tắt: Trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản, sau khi Luật Khoáng sản năm 2010 và các văn bản dưới Luật nhằm chi tiết hóa và hướng dẫn các quy định của Luật nói chung và các quy định phân cấp nói riêng được ban hành, cơ bản đã thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương. Tuy nhiên, cơ chế phân công, phân cấp giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương về địa chất, khoáng sản trong thời gian qua đã bộc lộ không ít những bất cập, chồng chéo, hạn chế, đòi hỏi cần có sự rà soát, đề xuất để sửa đổi, làm rõ trách nhiệm cũng như cơ chế phân công, phối hợp, hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả, hiệu lực phân công, phân cấp, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý tài nguyên địa chất, khoáng sản.
  • Phát thải CO2 trong ngành năng lượng toàn cầu năm 2022 cao kỷ lục

    Phát thải CO2 trong ngành năng lượng toàn cầu năm 2022 cao kỷ lục

    Mức phát thải CO2 từ ngành năng lượng trên phạm vi toàn cầu đã được ghi nhận ở mức cao kỷ lục trong năm 2022, một xu hướng đi ngược lại những cam kết trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015.
  • GIS kết hợp với dữ liệu sinh khí hậu trong nghiên cứu và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học

    GIS kết hợp với dữ liệu sinh khí hậu trong nghiên cứu và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học

    Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có hệ thống bản đồ đa dạng sinh học để làm cơ sở thống nhất cho công tác quản lý, quy hoạch và bảo tồn các loài sinh vật và hệ sinh thái. Các bản đồ thường chỉ là sản phẩm của các dự án được thực hiện một cách độc lập ở các địa phương hoặc trung ương và chưa được quản lý một cách thống nhất. Do đó việc xây dựng các kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, phục vụ phát triển KT-XH bền vững là hết sức cần thiết.
  • Hệ sinh thái biển phát triển mạnh trên Đảo rác Thái Bình Dương

    Hệ sinh thái biển phát triển mạnh trên Đảo rác Thái Bình Dương

    Vòng xoáy rác Thái Bình Dương mở rộng nhanh đến mức cộng đồng sinh vật biển đã phát triển trên rác thải nhựa, nơi cách khu vực sống của chúng hàng nghìn kilomet.
  • Viện Địa chất và Khoáng sản: Triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, tăng cường năng lực nghiên cứu

    Viện Địa chất và Khoáng sản: Triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, tăng cường năng lực nghiên cứu

    Trong năm 2023, Viện tiếp tục triển khai các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ khoa học công nghệ, dự án hợp tác quốc tế, nhiệm vụ chuyên môn chuyển giao từ năm 2022; đồng thời, tập trung nhân lực, trí tuệ, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ năm 2023, các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2023.
  • Ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác dự báo sạt lở đất

    Ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác dự báo sạt lở đất

    Tăng cường cảnh báo sớm, ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác dự báo là một trong những giải pháp quan trọng nhằm hạn chế thiệt hại về người và tài sản do sạt lở đất gây ra.
  • Nhiều loài động - thực vật ở Nam Cực có nguy cơ tuyệt chủng

    Nhiều loài động - thực vật ở Nam Cực có nguy cơ tuyệt chủng

    Theo nghiên cứu mới đăng trên Tạp chí PLOS Biology, 65% các loài động - thực vật bản địa ở Nam Cực có thể sẽ biến mất vào cuối thế kỷ này nếu như thế giới tiếp tục phương thức kinh doanh hiện nay và không kiềm chế được lượng khí thải từ nhiên liệu hóa thạch đang làm Trái đất nóng dần lên.
  • Đề xuất mô hình 7R đối với rác thải nhựa

    Đề xuất mô hình 7R đối với rác thải nhựa

    Đây là công trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu của Khoa Môi trường- Trường Đại học TN&MT Tp. Hồ Chí Minh. Mô hình 7R này sẽ là một trong các mắt xích thiết yếu để tạo ra hệ sinh thái cho nền kinh tế tuần hoàn hướng tới phát triển bền vững của Việt Nam.
  • Một số nghiên cứu về xử lý chất thải rắn  sinh hoạt trên thế giới

    Một số nghiên cứu về xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

    Các nước trên thế giới đã có nhiều nỗ lực để tính toán chi phí thiệt hại do tác động tới sức khỏe của phương án chôn lấp và các phương án xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Những nghiên cứu này đều lượng giá giá trị thiệt hại do các tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí, tác động tới sức khỏe do ô nhiễm môi trường, tác động của biến đối khí hậu. Các nghiên cứu chỉ ra rằng không thể đánh giá thấp hoặc bỏ qua nhóm chi phí ngoại ứng gồm chi phí ngoại ứng về môi trường, xã hội trong việc tính tổng chi phí của hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt.