Xác định các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Xác định các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

07/06/2026
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định và việc áp dụng quy định về các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận và tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, bài viết chỉ ra một số hạn chế và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật trong việc xác định các trường hợp thu hồi đất.
  • Nghiên cứu mối tương quan giữa giá trị pH đến ăn mòn cốt thép 

    Nghiên cứu mối tương quan giữa giá trị pH đến ăn mòn cốt thép 

    Bài báo trình bày kết quả thực nghiệm ảnh hưởng của giá trị pH đến ăn mòn cốt thép. Kết quả cho thấy, có 3 vùng ăn mòn khác nhau dựa theo giá trị pH đó là vùng giá trị pH thấp (pH=4), vùng trung tính (5=pH=10) và vùng giá trị pH cao (pH>10). Ở vùng trung tính sự thay đổi mật độ dòng ăn mòn giữa các giá trị pH khác nhau có sự chênh lệch không đáng kể, tuy nhiên, ở vùng giá trị pH thấp và vùng giá trị pH cao mật độ dòng ăn mòn có sự chênh lệch rõ rệt giữa các giá trị pH. Sử dụng Hàm Pearson phần mềm Excel và phần mềm Origin cho thấy, có tương quan nghịch, đồng thời mô hình hóa tương quan giữa giá trị pH và mật độ dòng ăn mòn là một biểu thức phương trình bậc ba.
  • Khả năng hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ về du lịch trước biến đổi khí hậu

    Khả năng hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ về du lịch trước biến đổi khí hậu

    Du lịch đã trở thành một trong những hoạt động dịch chuyển xuyên quốc gia mạnh mẽ nhất trên thế giới. Việt Nam là một đất nước rất đẹp, giàu đa dạng sinh thái và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ,... Do đó, du lịch đã trở thành một trong những phương thức giải trí cho hàng triệu người Việt Nam, cũng như là một trong những điểm đến hút du khách mới nổi nhất hành tinh. Trong những năm gần đây, du lịch đã trở thành một ngành chủ chốt đóng góp cho kinh tế đất nước.
  • Nghiên cứu phân lập polyphenol và flavonoid toàn phần từ vỏ quả mắc ca và đề xuất một số ứng dụng nhằm giảm thiểu chất thải trong quá trình chế biến ra môi trường

    Nghiên cứu phân lập polyphenol và flavonoid toàn phần từ vỏ quả mắc ca và đề xuất một số ứng dụng nhằm giảm thiểu chất thải trong quá trình chế biến ra môi trường

    Mắc ca được biết đến là một loại hạt cao cấp chứa nhiều chất dinh dưỡng, tuy nhiên đối với vỏ của loại hạt này lại chưa được nhiều người biết đến và chúng được coi là một trong những phụ phẩm trong nông nghiệp. Với hiện trạng chế biến mắc ca hiện nay tại nước ta, nhiều phụ phẩm nông nghiệp được tạo ra trong quá trình chế biến hạt mắc ca. Vì vậy, nghiên cứu khoa học này sẽ tập trung vào việc định hướng phát triển ngành sản xuất mắc ca tại Việt Nam. Đầu tiên, các hợp chất phenolic (TPC) và flavonoid đã được tiến hành phân lập từ các phụ phẩm bằng cách sử dụng các dung môi khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiềm năng của việc sử dụng các phụ phẩm này trong ứng dụng khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chất mỹ phẩm và y tế. Ngoài việc tạo ra cơ hội kinh doanh mới và tạo giá trị kinh tế từ cây mắc ca, việc sử dụng phụ phẩm này còn có lợi cho môi trường bằng cách giảm thiểu lượng rác thải và bảo vệ môi trường. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên và bảo vệ
  • Đánh giá thay đổi đặc tính đất lên liếp trồng mít từ đất ruộng tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

    Đánh giá thay đổi đặc tính đất lên liếp trồng mít từ đất ruộng tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

    Nghiên cứu đặc tính hóa học đất ở điều kiện lên liếp từ đất lúa lâu năm tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được thực hiện nhằm: Xác định sự thay đổi đặc tính hóa học đất sau khi lên liếp trồng mít từ đất lúa thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; đánh giá các biện pháp quản lý bón phân cho cây trồng.
  • Đánh giá hiện trạng phát thải và đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    Đánh giá hiện trạng phát thải và đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    Thành phố Bà Rịa là thủ phủ của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, một trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra hàng ngày tại Thành phố hiện nay là 97 tấn, tăng lên 125 tấn vào năm 2025, 189 tấn vào năm 2030. Kết quả phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại 200 hộ gia đình, trong 7 ngày liên tục cho thấy tỷ lệ trung bình của rác thải thực phẩm là 59,83%, nhựa là 18,42%, giấy là 4,22%, kim loại là 0,65%, thành phần trơ khác là 13,66% và chất thải nguy hại là 0,34%. Hiện nay, chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Thành phố chưa được phân loại tại nguồn, tỷ lệ thu gom đạt trên 95%, chủ yếu được xử lý bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được tái chế rất thấp. Để đáp ứng được Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Thành phố trong thời gian tới cần triển khai các biện pháp phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển, tái chế và tái sử dụng chất thải, hạn chế tối đa tỷ lệ chất th
  • Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng nền tảng dữ liệu không gian đô thị trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

    Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng nền tảng dữ liệu không gian đô thị trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

    Xây dựng và phát triển đô thị thông minh (ĐTTM) là xu hướng phát triển tất yếu, là một trong 15 lĩnh vực cốt lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư . Ngày 1/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển Đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 950/QĐ-TTg) trong đó, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm vụ “hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức triển khai xây dựng hệ thống dữ liệu không gian đô thị”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần thiết có các nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng nền tảng dữ liệu không gian đô thị trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường (nền tảng DLKGĐT TN&MT) làm cơ sở hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
  • ThS. Lưu Hải Âu: Nỗ lực nghiên cứu để chung tay hướng tới tự động hóa hoàn toàn công tác thành lập bản đồ địa hình từ ảnh UAV

    ThS. Lưu Hải Âu: Nỗ lực nghiên cứu để chung tay hướng tới tự động hóa hoàn toàn công tác thành lập bản đồ địa hình từ ảnh UAV

    Sau 03 năm thực hiện đề tài nghiên cứu, các tác giả của Trung tâm Tin học Trắc địa và Bản đồ (Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã tích hợp thành công hệ thống thiết bị IMU và GNSS thu nhận dữ liệu sử dụng công nghệ trạm tham chiếu ảo (VRS) trên thiết bị bay không người lái (UAV) phục vụ công tác thành lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn.
  • Phát triển các hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp qua thực tiễn tỉnh Thái Bình

    Phát triển các hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp qua thực tiễn tỉnh Thái Bình

    Liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân là hoạt động hợp tác tự nguyện cùng có lợi của các chủ thể độc lập với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm bổ sung them nguồn lực phát triển: Vốn, công nghệ, quản trị chất lượng, bảo đảm ổn định đầu ra, là cầu nối giữa doanh nghiệp và hộ nông dân xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, mang lại lợi ích tổng thể và lợi ích của các tác nhân tham gia. Góp phần đổi mới tư duy và một trong những giải pháp quan trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, từ đơn giá trị sang đa giá trị, giải quyết được những khó khăn hiện hữu từ nhiều năm nay.
  • Một số kết quả ước tính mực nước biển dâng tần suất hiếm tại bán đảo Đồ Sơn - Hải Phòng

    Một số kết quả ước tính mực nước biển dâng tần suất hiếm tại bán đảo Đồ Sơn - Hải Phòng

    Đất cảng Hải Phòng đã có chiều dài lịch sử hơn 100 năm (1888-2023), hiện nay Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương - một trong 28 địa phương ven biển Việt Nam, nằm ở vị trí trọng yếu trong vùng Duyên hải Bắc Bộ, có hơn 125 km chiều dài bờ biển, có diện tích thềm lục địa rộng khoảng 100.000 km2. Hải Phòng đang chú trọng phát triển kinh tế biển: Du lịch biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và khoáng sản; nuôi trồng và khai thác thủy sản; công nghiệp ven biển; phát triển năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Dễ dàng nhận thấy rất cần thiết phải có những công trình nghiên cứu khoa học về mực nước biển nhằm mục đích nắm bắt được quy luật dao động của mực nước biển; dự báo, cảnh báo được các hiện tượng thời tiết nguy hiểm bắt nguồn từ biển,...
  • Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ hiệu quả cho đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng

    Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ hiệu quả cho đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng

    Phát triển kinh tế - xã hội tại đảo Cát Bà trong thời gian vừa qua đã cho thấy những mâu thuẫn, xung đột khá gay gắt, tạo nên sự không bền vững của các hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý tài nguyên, môi trường. Mặc dù thành phố Hải Phòng, huyện đảo Cát Hải cũng như chính quyền cấp xã thuộc đảo Cát Bà đã có những nỗ lực để giải quyết các vấn đề nêu trên, nhưng kết quả còn có nhiều hạn chế. Nghiên cứu này đề xuất một mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ hiệu quả cho đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng nhằm bảo vệ, bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững.
  • Bài toán phân tách hành lang an toàn lưới điện và khả năng ứng dụng của dữ liệu Lidar

    Bài toán phân tách hành lang an toàn lưới điện và khả năng ứng dụng của dữ liệu Lidar

    Đường dây điện và hành lang an toàn lưới điện là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng của một quốc gia để đảm bảo an ninh và an toàn năng lượng. Tuy nhiên, việc giám sát hành lang an toàn lưới điện và đường dây điện không phải là công việc dễ dàng. So sánh giữa các công nghệ đo vẽ, thu thập và xử lý dữ liệu nhận thấy LiDAR là một công nghệ cho độ chính xác trong việc thu nhận dữ liệu về đối tượng khảo sát. Do đó, hoàn toàn có khả năng sử dụng trong việc phân tách hành lang an toàn lưới điện.
  • Đề xuất giải pháp triển khai nền tảng dữ liệu không gian đô thị trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển đô thị thông minh ở Việt Nam

    Đề xuất giải pháp triển khai nền tảng dữ liệu không gian đô thị trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển đô thị thông minh ở Việt Nam

    Theo Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030 phê duyệt tại Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018) đã ưu tiên các nội dung: Quy hoạch ĐTTM; xây dựng và quản lý đô thị thông minh; cung cấp các tiện ích cho các tổ chức, cá nhân với cơ sở nền tảng là hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và hệ thống hạ tầng ICT, trong đó bao gồm cơ sở dữ liệu không gian đô thị thông minh.
  • Ứng dụng mô hình DPSIR đánh giá mối quan hệ giữa sinh kế của người dân với các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

    Ứng dụng mô hình DPSIR đánh giá mối quan hệ giữa sinh kế của người dân với các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

    Huyện An Minh - tỉnh Kiên Giang với diện tích 59,058 ha có đường bờ biển trải dài qua 6 xã trên địa bàn. Sinh kế cộng đồng tại đây chủ yếu là nuôi trồng thủy sản (NTTS) và khai thác tài nguyên từ biển. Tuy nhiên, khu vực này có nguy cơ sạc lở cao và có khả năng nhiễm mặn > 4o/oo gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi (UBND tỉnh Kiên Giang, 2020). Ngoài ra, An Minh là điểm nóng được xác định trong phân tích rủi ro và tính dễ bị tổn thương về nông nghiệp và sinh kế (UBND tỉnh Kiên Giang, 2011). Từ những ghi nhận trên, mô hình DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng) được sử dụng để đánh giá hiện trạng và xác định các vấn đề quản lý tác động đến sinh kế của người dân ở vùng nghiên cứu.
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp xử lý sơ bộ đến hiệu quả xử lý chất thải vỏ thanh long bằng ấu trùng

    Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp xử lý sơ bộ đến hiệu quả xử lý chất thải vỏ thanh long bằng ấu trùng

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, ấu trùng ruồi lính đen (RLĐ) có khả năng sinh trưởng và phát triển trong môi trường cơ chất là vỏ thanh long có kích thước và độ ẩm khác nhau. Trong đó, ấu trùng xử lý chất thải trong nghiệm thức B có chiều dài trung bình lớn nhất là 20,85 mm; ấu trùng trong nghiệm thức A có chiều ngang lớn nhất là 4,35mm. Trong nghiệm thức C, ấu trùng có tỉ lệ hao hụt thấp nhất chiếm 5,5% và hiệu suất xử lý chất thải cao nhất đạt 75,5%.
  • Nghiên cứu khảo sát một số kháng thể phát hiện vi khuẩn bệnh than Bacillus anthracis

    Nghiên cứu khảo sát một số kháng thể phát hiện vi khuẩn bệnh than Bacillus anthracis

    Vi khuẩn Than Bacillus anthracis và một số loại vi khuẩn khác như Bacillus acereus, Bacillus thuringiensis cùng họ Bacillus nên có nhiều tương đồng về khả năng tạo bào tử và đặc điểm hình thái, di truyền. Do đó, một số kháng nguyên bề mặt vỏ bào tử có cấu tạo tương tự nhau nên việc phát hiện bằng một số kháng thể sẽ có phản ứng chéo không đặc hiệu. 
  • Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

    Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

    Chế độ thủy văn của hệ thống sông Hồng thay đổi theo hướng hạ thấp mực nước vào mùa kiệt, khiến cho nhiều công trình thủy lợi không thể vận hành. Từ vụ Đông Xuân năm 2005 - 2006, các hồ chứa thủy điện ở thượng du hệ thống sông Hồng bắt đầu thực hiện việc xả nước gia tăng để duy trì mực nước tối thiểu tại trạm thủy văn Hà Nội. Mặc dù giải pháp này đã nâng cao được mực nước trên các triền sông, phục vụ tốt việc gieo cấy, tuy nhiên lại làm thất thoát phần lớn lượng nước xả, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các nhà máy thủy điện. Từ thực tiễn xây dựng kế hoạch và điều tiết nước các hồ chứa thủy điện trên hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình trong những năm gần đây, bài viết này sẽ xác định cơ sở khoa học để phân tích, tính toán và đề xuất kế hoạch lấy nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân 2022 - 2023 vùng Trung du và Đồng bắc Bắc Bộ đảm bảo sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời đề xuất giải pháp chống hạn cho các khu vực khó khăn về nguồn nước.
  • Tiêu chí lựa chọn công nghệ khai thác các nguồn nước ở vùng núi cao, khan hiếm nước khu vực Bắc Bộ

    Tiêu chí lựa chọn công nghệ khai thác các nguồn nước ở vùng núi cao, khan hiếm nước khu vực Bắc Bộ

    Các giải pháp khai thác nước ở các vùng núi cao Bắc bộ đang được sử dụng phổ biến là thu trữ nước mưa, giếng đào, giếng khoan, mạch lộ và hồ treo,... Các giải pháp này đã cơ bản đáp ứng phần nào nhu cầu nước cho sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, nhiều công trình cấp nước hoạt động kém hiệu quả, vận hành thiếu linh hoạt. Trong nghiên cứu này, 19 tiêu chí thuộc 4 nhóm gồm: Nhóm tiêu chí về nguồn nước, nhóm tiêu chí về kinh tế kỹ thuật, nhóm tiêu chí về xã hội, nhóm tiêu chí về môi trường đã được xác lập để lựa chọn công nghệ khai thác các nguồn nước phù hợp với vùng núi cao, khan hiếm nước để đảm bảo công trình hoạt động hiệu quả, bền vững lâu dài. Phương pháp tiếp cận GIS đã được sử dụng và các tiêu chí được tích hợp bằng cách sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytical Hierarchy Process - AHP) (Saaty, 1980) để lựa chọn công nghệ khai thác các nguồn nước phù hợp với vùng núi cao, khan hiếm nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các tiêu chí đánh giá xác định khu vực áp dụng giải phá