Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ nhằm khắc phục những bất cập sau gần 10 năm thi hành, mà còn hướng tới thiết lập một khuôn khổ quản trị biển hiện đại, dựa trên dữ liệu, khoa học công nghệ, quản lý tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Tùng - Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, xung quanh những điểm mới trong dự án Luật lần này.
Chuyển từ “quản lý biển” sang “quản trị không gian biển” |
PV: Thưa ông, vì sao việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được đặt ra vào thời điểm này?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Sau gần 10 năm thi hành, Luật đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội, thúc đẩy bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, khai thác hợp lý tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển hiện nay đã thay đổi rất nhanh. Nhu cầu khai thác, sử dụng không gian biển gia tăng mạnh; các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, hạ tầng trên biển, logistics, đô thị ven biển, công trình lưỡng dụng… đặt ra nhiều yêu cầu quản lý mới. Trong khi đó, pháp luật hiện hành còn thiếu khuôn khổ đầy đủ ở cấp luật về quản lý, sử dụng không gian biển; thiếu cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn trong khai thác, sử dụng biển; chưa có quy định đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển; một số quy định về kiểm soát ô nhiễm, rác thải biển, sự cố môi trường, sinh vật ngoại lai, bảo vệ vùng bờ cũng cần được cập nhật.
Có thể nói, lần sửa đổi này không đơn thuần là chỉnh sửa kỹ thuật, mà là yêu cầu chuyển đổi mô hình quản lý biển. Chúng ta cần chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành, phân tán sang quản trị biển tổng hợp, hiện đại, dựa trên quy hoạch, dữ liệu, khoa học công nghệ và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng.
PV: Một trong những điểm mới được nhấn mạnh là quản lý, sử dụng không gian biển. Vì sao nội dung này có ý nghĩa then chốt, thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Không gian biển là không gian phát triển chiến lược của quốc gia. Trên cùng một vùng biển có thể đồng thời tồn tại nhiều nhu cầu: hàng hải, dầu khí, thủy sản, du lịch, bảo tồn, quốc phòng - an ninh, năng lượng tái tạo, công trình biển, nghiên cứu khoa học… Nếu không có cơ chế phân bổ, điều phối và kiểm soát hiệu quả xung đột trong sử dụng không gian biển là điều khó tránh khỏi.
Dự thảo chính sách lần này đặt vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch, thống nhất và hiệu quả. Trọng tâm là gắn việc sử dụng khu vực biển với Quy hoạch không gian biển quốc gia; thiết lập cơ chế quản lý sử dụng không gian biển linh hoạt thông qua việc giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; phân định rõ trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; thiết lập cơ chế xử lý chồng lấn, mâu thuẫn; xây dựng hồ sơ hải chính; bổ sung chế định sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Nói cách khác, biển không thể được quản lý theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Mọi hoạt động khai thác, sử dụng không gian biển phải được đặt trong một trật tự pháp lý thống nhất, vừa tạo thuận lợi cho phát triển, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia và bảo vệ môi trường biển.
Mở quyền sử dụng khu vực biển nhưng phải có kiểm soát |
PV: Dự thảo chính sách cũng đề cập việc hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển. Đây có phải là bước mở rộng quyền cho nhà đầu tư, doanh nghiệp thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Đúng là dự thảo chính sách có định hướng bổ sung, hoàn thiện các quyền của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê khu vực biển. Trong thực tiễn, khi một tổ chức được phép sử dụng khu vực biển để đầu tư dự án, nếu quyền sử dụng khu vực biển chưa được xác lập rõ ràng, khả năng huy động vốn, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển hoặc tài sản gắn liền với khu vực biển sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, đây không phải là việc “mở quyền” một cách tuyệt đối. Biển là không gian đặc biệt, có tính liên thông, đa mục đích, nhạy cảm về môi trường, quốc phòng, an ninh và chủ quyền. Vì vậy, việc xác lập quyền phải đi đôi với điều kiện thực hiện quyền, giới hạn quyền, nghĩa vụ tài chính, trách nhiệm bảo vệ môi trường và yêu cầu tuân thủ quy hoạch, đặc biệt là phải đảm bảo quốc phòng, an ninh và quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia.
Tinh thần của chính sách là mở quyền có kiểm soát. Nhà nước tạo hành lang pháp lý minh bạch, ổn định để thu hút đầu tư, nhưng đồng thời phải ngăn ngừa tình trạng sử dụng khu vực biển tùy tiện, đầu cơ, chuyển dịch quyền không đúng điều kiện, không phù hợp quy hoạch hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
PV: Có thể hiểu đây là cách tiếp cận gần với quản lý đất đai, nhưng áp dụng cho không gian biển không, thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Có điểm tương đồng về nhu cầu xác lập quyền, đăng ký, nghĩa vụ tài chính, cơ chế giao, cho thuê, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ… Nhưng không thể đồng nhất không gian biển với đất đai. Không gian biển có đặc thù riêng: luôn biến động, liên thông theo dòng chảy, hệ sinh thái, hoạt động hàng hải, quốc phòng, an ninh; việc sử dụng một khu vực biển có thể tác động đến khu vực khác, thậm chí đến nhiều ngành, nhiều địa phương. Bên cạnh đó, chế độ pháp lý của mỗi vùng biển có mức độ khác nhau theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Vì vậy, dự thảo chính sách hướng tới xây dựng chế định phù hợp với bản chất của tài nguyên, không gian biển. Chúng ta cần công cụ pháp lý để quản lý khu vực biển hiệu quả hơn, nhưng cũng phải bảo đảm không làm biến dạng chế độ pháp lý về tài sản, đất đai, đầu tư và các luật chuyên ngành có liên quan; đồng thời phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là yêu cầu rất quan trọng để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Bảo vệ môi trường biển: Chuyển từ xử lý sang phòng ngừa rủi ro |
PV: Về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, dự thảo chính sách đặt ra những vấn đề gì đáng chú ý thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Môi trường biển đang chịu áp lực rất lớn từ nhiều nguồn: ô nhiễm từ đất liền ra biển, hoạt động hàng hải, dầu khí, thủy sản, du lịch, công nghiệp ven biển, rác thải nhựa đại dương, sự cố tràn dầu, hóa chất, suy thoái hệ sinh thái, xói lở bờ biển…
Trong khi đó, khuôn khổ pháp lý hiện hành về kiểm soát ô nhiễm biển còn một số nội dung chưa đầy đủ, chưa bao quát hết những vấn đề mới phát sinh. Dự thảo chính sách sửa đổi theo hướng bổ sung, quy định những nội dung có tính đặc thù, riêng biệt của biển và hải đảo, không chồng chéo với Luật Bảo vệ môi trường và các luật chuyên ngành khác.
Điểm đáng chú ý là chuyển trọng tâm từ “xử lý sau ô nhiễm” sang “chủ động phòng ngừa, quản lý rủi ro”. Nội dung này bao gồm kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển; quản lý xả thải gắn với quy hoạch không gian biển, lưu vực sông ven biển, sức chịu tải môi trường; kiểm soát rác thải biển, rác thải nhựa đại dương; bảo vệ vùng bờ; phòng ngừa xói lở, suy thoái; kiểm soát sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu; ứng phó và phục hồi môi trường sau sự cố.
PV: Vấn đề rác thải biển và rác thải nhựa đại dương hiện nay đang rất được quan tâm. Luật sửa đổi có thể tạo thay đổi gì thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Rác thải biển là vấn đề không thể giải quyết bằng các giải pháp đơn lẻ. Nguồn phát sinh rác thải biển rất đa dạng: từ đất liền, hoạt động du lịch, thủy sản, hàng hải, nuôi trồng trên biển, thậm chí có yếu tố xuyên biên giới. Do đó, cần một khuôn khổ pháp lý đủ rõ để xác định trách nhiệm của các chủ thể, từ phòng ngừa, thu gom, phân loại, xử lý đến quan trắc, giám sát.
Luật sửa đổi sẽ là cơ sở để bổ sung các biện pháp kiểm soát rác thải biển một cách hệ thống hơn. Nhưng điều quan trọng không chỉ là quy định trong luật, mà là tổ chức thực thi: địa phương ven biển phải có năng lực quản lý; doanh nghiệp phải có trách nhiệm với hoạt động phát sinh chất thải; cộng đồng ven biển, ngư dân, cơ sở du lịch, cảng biển phải trở thành chủ thể tham gia bảo vệ môi trường biển.
Bảo vệ biển không thể chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước. Đó phải là trách nhiệm chung, được phân định rõ và được thực hiện bằng cơ chế cụ thể.
Kinh tế biển xanh cần thể chế đủ mạnh |
PV: Dự thảo chính sách có một nội dung rất đáng chú ý là cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển kinh tế biển. Vì sao cần cơ chế đặc thù, thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Hoạt động kinh tế trên biển có đặc thù rất khác so với trên đất liền. Chi phí đầu tư lớn, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài, yêu cầu công nghệ cao, chịu tác động lớn của thiên tai, biến đổi khí hậu, điều kiện hải văn, đồng thời liên quan trực tiếp đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và bảo vệ môi trường.
Nếu chỉ áp dụng các cơ chế chung, nhiều ngành kinh tế biển mới sẽ khó phát triển. Chẳng hạn, điện gió ngoài khơi, tài nguyên biển sâu, khí hydrate, đất hiếm, hạ tầng lưỡng dụng trên biển, trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, công trình trên biển, đô thị ven biển thích ứng biến đổi khí hậu… đều cần hành lang pháp lý đủ ổn định, minh bạch và có tính khuyến khích.
Dự thảo chính sách hướng tới tạo cơ sở pháp lý cho các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội, nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc phát triển bền vững. Kinh tế biển phải là kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, tạo sinh kế bền vững, hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng ven biển.
PV: Như vậy, phát triển kinh tế biển không chỉ là khai thác nhiều hơn, mà là khai thác thông minh hơn thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Chính xác. Tư duy mới không phải là khai thác biển bằng mọi giá. Biển là không gian phát triển nhưng cũng là hệ sinh thái sống, là không gian chủ quyền, là nguồn sinh kế của hàng triệu người dân ven biển. Vì vậy, phát triển kinh tế biển phải dựa trên quy hoạch, dữ liệu, khoa học công nghệ, đánh giá sức chịu tải môi trường và khả năng phục hồi của hệ sinh thái.
Chúng ta cần phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao, ít tác động tiêu cực đến môi trường, sử dụng công nghệ xanh, công nghệ tuần hoàn, gắn với bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Đây là cách để Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, nhưng phải giàu một cách bền vững.
Dữ liệu biển là nền tảng của quản trị biển hiện đại |
PV: Trong dự thảo, yếu tố khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được nhấn mạnh. Điều này sẽ thay đổi công tác quản lý biển như thế nào?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Quản trị biển hiện đại không thể thiếu dữ liệu. Biển là không gian rộng lớn, phức tạp, biến động liên tục. Nếu không có dữ liệu đầy đủ, cập nhật, liên thông, chúng ta rất khó ra quyết định chính xác trong quy hoạch, cấp phép, giám sát, cảnh báo, ứng phó sự cố, kiểm soát ô nhiễm hay bảo tồn hệ sinh thái.
Hiện nay, dữ liệu tài nguyên, môi trường biển còn phân tán ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều hệ thống khác nhau. Dự thảo chính sách đặt ra yêu cầu xây dựng, chuẩn hóa, tích hợp và khai thác hiệu quả hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu biển. Đây không chỉ là công cụ hỗ trợ quản lý, mà phải trở thành nền tảng của quản trị biển.
Khi có dữ liệu tốt, chúng ta có thể quản lý không gian biển minh bạch hơn, giám sát môi trường hiệu quả hơn, dự báo rủi ro tốt hơn, hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận thông tin rõ ràng hơn và tăng cường năng lực kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
PV: Có thể nói dữ liệu biển cũng là một loại hạ tầng chiến lược, thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Đúng vậy. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu biển phải được nhìn nhận như một hạ tầng chiến lược. Không có dữ liệu, quản lý sẽ dựa nhiều vào kinh nghiệm và xử lý tình huống. Có dữ liệu, chúng ta có thể chuyển sang quản lý dự báo, quản lý rủi ro, quản lý thích ứng.
Đây cũng là yêu cầu phù hợp với định hướng đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đối với lĩnh vực biển và hải đảo, khoa học công nghệ không chỉ phục vụ điều tra, nghiên cứu, mà còn trực tiếp nâng cao năng lực quản trị, năng lực bảo vệ môi trường, năng lực khai thác bền vững và năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.
Phân quyền phải đi cùng năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình |
PV: Một vấn đề lớn trong quản lý biển là phân quyền, phân cấp. Dự thảo chính sách xử lý vấn đề này như thế nào thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Phân quyền, phân cấp là xu hướng cần thiết để tăng tính chủ động cho địa phương, rút ngắn thủ tục, đưa quyết định quản lý đến gần thực tiễn hơn. Tuy nhiên, với không gian biển, phân quyền phải được thiết kế rất thận trọng.
Biển có tính liên thông rất cao. Một quyết định tại địa phương này có thể tác động đến địa phương khác, ngành khác, thậm chí đến lợi ích quốc gia. Vì vậy, không thể phân quyền theo kiểu cắt khúc, cục bộ. Dự thảo chính sách hướng tới phân định rõ trách nhiệm quản lý, bảo đảm phù hợp với năng lực thực thi trên các vùng biển, đồng thời duy trì yêu cầu quản lý tổng hợp, thống nhất.
Nói cách khác, phân quyền phải đi cùng điều phối liên ngành, liên vùng; đi cùng dữ liệu chung; đi cùng cơ chế kiểm tra, giám sát; và đặc biệt là đi cùng trách nhiệm giải trình.
PV: Vậy địa phương ven biển sẽ cần chuẩn bị gì để thực thi luật sau khi được ban hành thưa ông?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Địa phương ven biển sẽ đóng vai trò rất quan trọng. Trước hết, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý biển, hải đảo; tăng cường ứng dụng công nghệ số; hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa phương; chủ động rà soát các hoạt động khai thác, sử dụng không gian biển, vùng bờ; kiểm soát tốt nguồn thải ra biển; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong xử lý các vấn đề liên vùng, liên ngành.
Luật có tốt đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức thực thi nghiêm túc, đồng bộ. Vì vậy, song song với xây dựng luật, cần chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực, dữ liệu, quy trình, hướng dẫn kỹ thuật và cơ chế phối hợp.
Luật mới phải vừa mở đường phát triển, vừa giữ vững lợi ích quốc gia lâu dài |
PV: Theo ông, thông điệp quan trọng nhất của lần sửa đổi Luật này là gì?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Thông điệp quan trọng nhất là: hoàn thiện thể chế để biển thực sự trở thành không gian phát triển mới của đất nước, nhưng phát triển phải bền vững, có trật tự, có trách nhiệm và gắn chặt với bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia.
Luật sửa đổi hướng tới một chỉnh thể chính sách gồm bốn nhóm: quản lý, sử dụng không gian biển; hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng khu vực biển; kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; và cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù để thúc đẩy kinh tế biển xanh. Bốn trụ cột này không tách rời nhau, mà hỗ trợ lẫn nhau.
Quản lý chặt chẽ để phát triển bền vững. Mở quyền để thu hút đầu tư, nhưng phải có kiểm soát. Ưu đãi để tạo động lực phát triển, nhưng không đánh đổi môi trường. Phân quyền để tăng hiệu quả, nhưng phải bảo đảm thống nhất quản lý và trách nhiệm giải trình. Đó là tinh thần xuyên suốt.
PV: Ông kỳ vọng gì khi dự án Luật được hoàn thiện và trình Quốc hội xem xét?
Ông Nguyễn Thanh Tùng:
Chúng tôi kỳ vọng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi sẽ trở thành công cụ pháp lý nền tảng cho quản trị biển hiện đại ở Việt Nam. Luật phải tháo gỡ được những điểm nghẽn thực tiễn, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền.
Việt Nam có lợi thế rất lớn về biển. Nhưng lợi thế chỉ trở thành động lực phát triển khi được quản trị bằng thể chế phù hợp, dữ liệu đầy đủ, công nghệ hiện đại và trách nhiệm thực thi nghiêm túc. Sửa luật lần này là bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!