Ngày nay, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững đang trở thành xu thế tất yếu trên toàn cầu. Đối với Việt Nam, nông nghiệp không chỉ giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế cho hàng chục triệu lao động nông thôn mà còn là lĩnh vực chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững, vấn đề then chốt hiện nay chính là nguồn lực tài chính.
Thực tế cho thấy, thời gian qua dù nhiều chủ trương, chính sách được Chính phủ ban hành nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, song việc huy động và hấp thụ nguồn vốn cho nông nghiệp xanh vẫn gặp không ít khó khăn. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), trang trại và hộ sản xuất vẫn loay hoay trong bài toán tiếp cận vốn để đầu tư công nghệ, đổi mới phương thức sản xuất và giảm phát thải.
Những năm gần đây, ngành nông nghiệp và môi trường đang từng bước chuyển đổi theo hướng sinh thái, tuần hoàn và phát thải thấp. Nhiều mô hình sản xuất xanh bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét như canh tác lúa giảm phát thải ở Đồng bằng sông Cửu Long, nông nghiệp hữu cơ tại nhiều địa phương, chăn nuôi tuần hoàn kết hợp biogas hay tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân hữu cơ và năng lượng sinh khối.
Tuy nhiên, khác với phương thức sản xuất truyền thống, nông nghiệp xanh đòi hỏi mức đầu tư lớn. Từ hệ thống tưới tiết kiệm nước, xử lý chất thải, năng lượng tái tạo, công nghệ số, truy xuất nguồn gốc cho tới đo lường phát thải carbon… tất cả đều cần nguồn vốn dài hạn và ổn định.
Tại nhiều vùng sản xuất lúa trọng điểm, để áp dụng mô hình canh tác giảm phát thải theo phương pháp tưới ngập khô xen kẽ, nông dân phải đầu tư đồng bộ hệ thống điều tiết nước nội đồng, máy móc cơ giới hóa, giống chất lượng cao và quy trình kỹ thuật mới. Hay trong chăn nuôi, việc xây dựng hệ thống biogas, xử lý chất thải khép kín hay tận dụng phụ phẩm làm năng lượng sinh học cũng cần chi phí lớn…
Không chỉ dừng ở đầu tư hạ tầng, yêu cầu của thị trường xuất khẩu hiện nay còn buộc doanh nghiệp, HTX phải đầu tư mạnh cho chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và hệ thống quản trị phát thải theo tiêu chuẩn quốc tế.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, nhu cầu tài chính cho chuyển đổi nông nghiệp xanh tại các quốc gia đang phát triển hiện ở mức hàng trăm tỷ USD mỗi năm. Riêng Việt Nam, để thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, ngành nông nghiệp cần nguồn lực đầu tư rất lớn trong giai đoạn tới, trong đó nhu cầu đầu tư cho chuyển đổi xanh trong nông nghiệp đến năm 2030 được ước tính ở mức hàng chục tỷ USD.
Dù nhu cầu đầu tư ngày càng tăng, song thực tế cho thấy khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh của doanh nghiệp và người sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế. Theo bà Yến, phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp, HTX và hộ sản xuất hiện nay có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu và thiếu tài sản bảo đảm. Trong khi đó, các khoản đầu tư cho nông nghiệp xanh thường có thời gian hoàn vốn dài, rủi ro cao nên nhiều tổ chức tín dụng còn dè dặt khi cho vay. Hiện nay, không ít HTX muốn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ hoặc xây dựng mô hình tuần hoàn nhưng khó tiếp cận được nguồn vốn do chưa có phương án kinh doanh bài bản, hệ thống kế toán thiếu minh bạch hoặc chưa đáp ứng các yêu cầu về quản trị môi trường – xã hội. Nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản cũng cũng chưa tiếp cận được các gói tín dụng xanh, do thủ tục còn phức tạp và thiếu cơ chế ưu đãi riêng cho lĩnh vực nông nghiệp phát thải thấp. Phần lớn nguồn vốn vẫn tập trung cho sản xuất truyền thống hoặc vốn lưu động ngắn hạn, trong khi các sản phẩm tín dụng dành riêng cho nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải hay carbon thấp còn khá hạn chế.
Một trong những nguyên nhân khiến dòng vốn xanh chưa thực sự “chảy” mạnh vào nông nghiệp là do hệ thống chính sách và công cụ tài chính còn phân tán. Bà Yến cho biết, hiện nay, chúng ta đã bước đầu hình thành nhiều cơ chế hỗ trợ như tín dụng nông nghiệp, quỹ hỗ trợ HTX, quỹ bảo vệ môi trường, chính sách tăng trưởng xanh hay lộ trình phát triển thị trường carbon. Tuy nhiên, các công cụ này vẫn thiếu tính kết nối và chưa hình thành được hệ sinh thái tài chính xanh hoàn chỉnh.
Đáng chú ý, chúng ta hiện chưa có bộ tiêu chí phân loại xanh riêng cho lĩnh vực nông nghiệp. Điều này khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc xác định dự án xanh để áp dụng cơ chế ưu đãi tín dụng, còn doanh nghiệp và HTX cũng thiếu căn cứ để xây dựng phương án đầu tư phù hợp.
Lãnh đạo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho rằng, hiện nay cơ chế chia sẻ rủi ro trong nông nghiệp vẫn còn hạn chế. Bảo hiểm nông nghiệp phát triển chậm, quy mô nhỏ, trong khi các quỹ bảo lãnh tín dụng cho HTX và doanh nghiệp nông nghiệp chưa đủ mạnh. Do đó, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không chỉ là bài toán thiếu vốn mà còn là bài toán thiếu cơ chế hấp thụ vốn hiệu quả.
Bà Yến cho biết, kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, hộ nông dân nhỏ lẻ khó có thể tiếp cận trực tiếp nguồn vốn xanh nếu thiếu các tổ chức trung gian. Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu, HTX không chỉ đóng vai trò tổ chức sản xuất mà còn là cầu nối giữa nông dân với ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường. Thông qua HTX, các tổ chức tín dụng có thể kiểm soát dòng tiền, quản lý vùng nguyên liệu và giảm rủi ro khi cho vay.
Ở Việt
Để thúc đẩy nguồn lực tài chính cho phát triển nông nghiệp xanh, giảm phát thải, bà Yến cho rằng, chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ thể chế tới công cụ tài chính. Trước hết, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về tài chính xanh trong nông nghiệp, đặc biệt là xây dựng bộ tiêu chí phân loại xanh nhằm xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên đầu tư như nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải mêtan, nông nghiệp hữu cơ hay năng lượng tái tạo trong nông nghiệp.
Cùng với đó, cần có các gói tín dụng xanh chuyên biệt cho từng lĩnh vực với lãi suất ưu đãi, thời gian vay dài hơn và cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc thù sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, Nhà nước cần đóng vai trò “vốn mồi”, tăng cường hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào nông nghiệp xanh.
Ngoài tín dụng ngân hàng, việc phát triển thị trường carbon cũng được xem là hướng đi tiềm năng nhằm tạo thêm nguồn thu cho người sản xuất. Các mô hình giảm phát thải trong sản xuất lúa, chăn nuôi tuần hoàn hay hấp thụ carbon từ nông, lâm kết hợp hoàn toàn có thể tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp và HTX, đặc biệt trong các lĩnh vực như kế toán số, truy xuất nguồn gốc, quản trị ESG và xây dựng phương án kinh doanh xanh.
“Việc yêu cầu xanh hóa sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết, do đó việc huy động hiệu quả nguồn lực tài chính sẽ quyết định tốc độ chuyển đổi của ngành nông nghiệp Việt