Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về giao quyền sử dụng biển, đảm bảo việc sử dụng biển phải phù hợp với các quy hoạch (Nghị định); loại trừ những mâu thuẫn, xung đột trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển giữa các tổ chức, cá nhân với các mục đích khác nhau; đảm bảo lợi ích của tổ chức, cá nhân được tiến hành hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển hợp pháp,... góp phần phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn - đó là những chia sẻ về mục đích hướng đến của Nghị định số 11/2021/NĐ-CP được ông Nguyễn Thanh Tùng, Vụ trưởng Vụ Chính sách và Pháp chế, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trao đổi với phóng viên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường.
Nuôi biển kết hợp du lịch sinh thái đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở nhiều vùng nông thôn ven biển; giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh vùng ven biển, đóng góp lớn vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tuy nhiên, 2 lĩnh vực nuôi biển và du lịch chưa có sự liên kết, song hành. Điều này, đang gây nhiều mâu thuẫn, bất hợp lý và lãng phí. Các nhà quản lý địa phương cần có góc nhìn tổng thể, gắn với lợi ích cộng đồng dân cư ven biển.
Loại hình đất nền ven biển đã, đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu cơ bất động sản (BĐS), còn là dư địa tăng giá và kênh đầu tư hấp dẫn trong suốt năm 2019, lý do bởi sự khan hiếm quỹ đất, tỷ suất sinh lời cao và tâm lý chuộng nhà liền thổ, giá thành đầu tư không cao và khả năng thanh khoản thứ cấp tốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, đất nền không phải là một kênh đầu tư mang tính bền vững mà đơn thuần chỉ là hoạt động “lướt sóng” của các nhà đầu tư.
Trong bối cảnh hiện nay, muốn phát triển bền vững biển đảo, muốn làm chủ biển, đảo, rất cần phải thiết lập tư duy “Quản trị biển” chứ không chỉ “Quản lý biển”. Do vậy, cần tạo ra kỷ cương, xây dựng một hành lang chính sách và luật pháp trong công tác quản lý biển, bảo đảm chặt chẽ, minh bạch và toàn xã hội đều hoạt động, vận hành trong khuôn khổ hành lang quy tắc đó. Theo đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm, lộ trình thực hiện và phân công cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương có liên quan.
Việc khuyến khích các quốc gia, các tổ chức quốc tế NCKH trong vùng biển của Việt Nam trong bối cảnh nguồn lực cho hoạt động NCKH hạn hẹp như hiện nay là hướng đi phù hợp giúp Viêt Nam tận dụng nguồn lực quốc tế, phát triển kinh tế biển, đảo. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này là một hoạt động có điều kiện, phải được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt, tuân thủ Luật Biển Việt Nam và Luật TN,MT biển và hải đảo.