Làm chủ công nghệ nuôi cấy đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo, anh Nguyễn Văn Tuấn (xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) đã xây dựng thành công thương hiệu Đăng Khoa với nhiều sản phẩm OCOP đạt chuẩn. Mô hình không chỉ mở ra hướng phát triển mới cho ngành dược liệu mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong tiêu thụ sản phẩm địa phương.
Chinh phục dược liệu quý
Trong khu sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt về nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng tại xã Nga Sơn (Thanh Hóa), hàng nghìn hộp đông trùng hạ thảo đang phát triển đồng đều trên các giá nuôi cấy. Dưới hệ thống đèn chuyên dụng, những sợi nấm màu vàng cam vươn cao, tạo nên khung cảnh đặc biệt giữa vùng quê ven biển Thanh Hóa.
Ít ai biết rằng, phía sau mô hình sản xuất hiện đại ấy là hành trình dài đầy thử thách của anh Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1985), Giám đốc Công ty TNHH Khoa học Công nghệ Đăng Khoa. Hiện nay, anh được nhiều người biết đến như một trong những cá nhân tiêu biểu trong phát triển sản phẩm OCOP từ đông trùng hạ thảo tại địa phương.
Sinh ra trong một gia đình còn nhiều khó khăn, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức, anh Tuấn từng trải qua nhiều công việc khác nhau để tìm kiếm cơ hội phát triển. Tuy nhiên, mong muốn được lập nghiệp trên chính quê hương luôn thôi thúc anh trở về và bắt đầu con đường khởi nghiệp.
Bước ngoặt đến trong một lần tham quan mô hình sản xuất đông trùng hạ thảo tại một địa phương khác. Nhận thấy đây là loại dược liệu có giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn nhưng phần lớn sản phẩm trên thị trường lúc bấy giờ phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu với giá thành đắt đỏ, anh nảy sinh ý tưởng nuôi cấy đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo.
Theo anh Tuấn, nếu làm chủ được công nghệ sản xuất, người tiêu dùng trong nước sẽ có cơ hội tiếp cận sản phẩm chất lượng với giá thành phù hợp hơn. Ý tưởng đó nhanh chóng trở thành động lực để anh bắt tay vào nghiên cứu và đầu tư. Năm 2017, anh quyết định vay mượn hàng tỷ đồng để xây dựng hệ thống phòng nuôi cấy đạt tiêu chuẩn, đầu tư các thiết bị như nồi hấp tiệt trùng, hệ thống lọc không khí, phòng vô trùng cùng nhiều máy móc chuyên dụng phục vụ quá trình nghiên cứu và sản xuất.
Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó hoàn toàn không giống kỳ vọng ban đầu. Thời điểm ấy, nghề nuôi cấy đông trùng hạ thảo tại Thanh Hóa còn khá mới mẻ. Tài liệu chuyên môn không nhiều, kinh nghiệm thực tế gần như không có. Mọi công đoạn đều phải tự tìm hiểu, tự thử nghiệm và tự rút kinh nghiệm.
Những lứa đông trùng hạ thảo đầu tiên liên tục thất bại. Hàng nghìn hộp nuôi cấy bị nhiễm khuẩn hoặc không hình thành quả thể. Không ít lần, anh phải chứng kiến toàn bộ sản phẩm của cả một chu kỳ sản xuất bị hủy bỏ. Thiệt hại về kinh tế ngày càng lớn. Có thời điểm số tiền thất thoát lên tới hàng trăm triệu đồng chỉ sau một đợt nuôi cấy không thành công. Áp lực nợ nần khiến nhiều người thân và bạn bè khuyên anh nên dừng lại.
Nhưng thay vì bỏ cuộc, anh lựa chọn tiếp tục tìm lời giải. Mỗi thất bại đều được anh ghi chép tỉ mỉ để xác định nguyên nhân. Từ nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng cho tới thành phần giá thể và điều kiện vô trùng đều được theo dõi, điều chỉnh liên tục. Hàng trăm lần thử nghiệm được thực hiện trong suốt nhiều năm với quyết tâm làm chủ công nghệ sản xuất. “Càng thất bại tôi càng muốn tìm ra nguyên nhân. Nếu bỏ cuộc giữa chừng thì toàn bộ công sức và số vốn đầu tư trước đó sẽ trở nên vô nghĩa”, anh Tuấn chia sẻ.
Làm chủ công nghệ nuôi cấy đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo
Sau nhiều năm nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, anh Nguyễn Văn Tuấn từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo. Từ một phòng nuôi quy mô nhỏ ban đầu, hiện nay cơ sở của anh đã phát triển thành hệ thống 5 phòng nuôi khép kín với tổng vốn đầu tư khoảng 3 - 4 tỷ đồng. Các phòng nuôi được thiết kế riêng biệt theo từng giai đoạn sinh trưởng của nấm nhằm đảm bảo điều kiện tối ưu cho quá trình phát triển. Hiện, mỗi ngày cơ sở sản xuất khoảng 1.000 hộp đông trùng hạ thảo. Toàn bộ quy trình đều được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều và hạn chế tối đa rủi ro nhiễm khuẩn.
Theo anh Tuấn, yếu tố quan trọng nhất trong nuôi cấy đông trùng hạ thảo là môi trường phải gần như vô trùng tuyệt đối. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong quá trình cấy giống hoặc xử lý nguyên liệu cũng có thể khiến cả lô sản phẩm bị hỏng. Giá thể nuôi cấy được phối trộn từ nhiều nguyên liệu như nhộng tằm, gạo lứt, nước dừa và các loại vitamin tinh khiết. Hỗn hợp sau đó được đưa vào nồi hấp tiệt trùng ở nhiệt độ 121 độ C trước khi tiến hành cấy giống.
Sau khi cấy phôi, các hộp nuôi được đưa vào phòng tối từ 7 đến 10 ngày để sợi nấm phát triển. Khi hệ sợi phủ kín bề mặt giá thể, sản phẩm tiếp tục được chuyển sang phòng nuôi sáng. Tại đây, hệ thống đèn LED được vận hành từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày nhằm kích thích quá trình hình thành quả thể. Nhiệt độ luôn duy trì ổn định trong khoảng 18 - 20 độ C, độ ẩm được kiểm soát từ 85 - 95%. Nhờ việc kiểm soát nghiêm ngặt các điều kiện môi trường, tỷ lệ thành công trong sản xuất ngày càng được nâng cao, chất lượng sản phẩm ổn định hơn so với giai đoạn đầu.
Không dừng lại ở việc sản xuất đông trùng hạ thảo tươi, anh Tuấn tiếp tục đầu tư các thiết bị chế biến sâu như máy sấy lạnh và máy sấy thăng hoa nhằm bảo toàn tối đa các hoạt chất có trong sản phẩm. Đây được xem là bước đi quan trọng giúp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong toàn bộ quy trình sản xuất đã giúp mô hình của anh từng bước khẳng định được vị thế trên thị trường dược liệu trong nước.

Xây dựng thương hiệu OCOP và mở rộng thị trường bằng chuyển đổi số
Sau khi làm chủ công nghệ nuôi cấy, anh Nguyễn Văn Tuấn tập trung phát triển hệ sinh thái sản phẩm từ đông trùng hạ thảo nhằm đa dạng hóa nguồn thu và đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng.
Từ nguyên liệu đông trùng hạ thảo nuôi cấy, cơ sở đã nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều sản phẩm khác nhau như đông trùng hạ thảo khô, mật ong đông trùng hạ thảo, rượu đông trùng hạ thảo, tổ yến chưng đông trùng hạ thảo và trà túi lọc được sản xuất từ phần giá thể sau thu hoạch. Việc tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu giúp giảm lãng phí, đồng thời tạo thêm nhiều dòng sản phẩm phù hợp với các nhóm khách hàng khác nhau.
Đến nay, Công ty TNHH Khoa học Công nghệ Đăng Khoa đã có 7 sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao, gồm: Đông trùng hạ thảo tươi, Đông trùng hạ thảo khô, Mật ong đông trùng hạ thảo, Rượu đông trùng hạ thảo, Tổ yến chưng đông trùng hạ thảo, Trà túi lọc đông trùng hạ thảo và Rượu trắng Đăng Khoa. Việc đạt chứng nhận OCOP không chỉ góp phần nâng cao giá trị thương hiệu mà còn tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm mở rộng thị trường tiêu thụ. Từ thị trường địa phương, các sản phẩm của doanh nghiệp hiện đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An và nhiều địa phương khác trên cả nước.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, anh Tuấn chủ động đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử và nền tảng trực tuyến. Đây được xem là giải pháp hiệu quả giúp sản phẩm OCOP địa phương tiếp cận khách hàng nhanh hơn, đồng thời nâng cao tính minh bạch về nguồn gốc xuất xứ.
Theo anh Tuấn, để sản phẩm trong nước có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu, doanh nghiệp phải chú trọng chất lượng, xây dựng quy trình sản xuất bài bản và đặt yếu tố an toàn lên hàng đầu. “Đông trùng hạ thảo là sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Vì vậy, muốn phát triển bền vững thì phải sản xuất nghiêm túc, minh bạch và ứng dụng công nghệ trong mọi khâu”, anh cho biết.
Từ một người trẻ khởi nghiệp với nhiều lần thất bại và khoản nợ lớn, anh Nguyễn Văn Tuấn đã xây dựng thành công mô hình sản xuất đông trùng hạ thảo ứng dụng công nghệ cao ngay trên quê hương Nga Sơn. Thành công ấy không chỉ tạo nên thương hiệu OCOP tiêu biểu của địa phương mà còn mở ra hướng phát triển mới cho lĩnh vực dược liệu công nghệ cao tại Thanh Hóa, góp phần nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững.