Trong bối cảnh nuôi tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò ngành hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam, câu chuyện con giống đang trở thành điểm then chốt để nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Không chỉ cần đủ về số lượng, giống tôm nước lợ trong giai đoạn tới phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về chất lượng, an toàn dịch bệnh, hồ sơ nguồn gốc và khả năng truy xuất theo chuỗi.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành tôm nước lợ tiếp tục duy trì vị thế quan trọng trong cơ cấu thủy sản. Đến năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ ước đạt khoảng 750 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 1,29 triệu tấn. Sản lượng tăng nhanh trong khi diện tích nuôi cơ bản ổn định cho thấy xu hướng thâm canh, siêu thâm canh, nuôi công nghệ cao và tổ chức lại sản xuất theo hướng nâng cao năng suất.
Tuy nhiên, phía sau tăng trưởng sản lượng là áp lực ngày càng lớn về chất lượng giống, dịch bệnh, môi trường vùng nuôi và khả năng truy xuất nguồn gốc. Trong điều kiện nuôi mật độ cao, môi trường ao nuôi biến động và áp lực mầm bệnh lớn, chất lượng giống tác động trực tiếp đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, năng suất, chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế của người nuôi.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư chỉ rõ, giống tôm có chất lượng tốt, sạch bệnh, đồng đều, rõ nguồn gốc và phù hợp với điều kiện nuôi sẽ góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, hạn chế sử dụng thuốc, hóa chất, giảm chi phí xử lý môi trường và nâng cao hiệu quả vụ nuôi. Ngược lại, giống không rõ nguồn gốc, chất lượng không đồng đều hoặc thiếu hồ sơ kiểm soát có thể làm tăng rủi ro ngay từ đầu vụ.
Hiện nay, hệ thống sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ của Việt Nam có quy mô lớn. Năm 2025, cả nước có khoảng 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống, với tổng sản lượng giống đạt 167,58 tỷ con, mức cao nhất trong giai đoạn 2021–2025. Điều này cho thấy năng lực cung ứng giống trong nước về cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm.
Dù vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là sản xuất được bao nhiêu con giống, mà là con giống đó được tạo ra từ nguồn bố mẹ nào, có được kiểm dịch hay không, có kết quả xét nghiệm mầm bệnh hay không, có mã lô giống, hồ sơ vận chuyển và thông tin vùng nuôi tiếp nhận hay không. Đây là những yêu cầu ngày càng quan trọng khi thị trường xuất khẩu đòi hỏi cao hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dịch bệnh, trách nhiệm môi trường và phát triển bền vững.
Một tồn tại đáng chú ý là chất lượng giống chưa đồng đều giữa các cơ sở, vùng sản xuất và từng lô giống. Một số doanh nghiệp đã đầu tư bài bản về hạ tầng, quy trình sản xuất, quản lý đàn bố mẹ, xét nghiệm mầm bệnh và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, nhiều cơ sở nhỏ, cơ sở ương dưỡng, điểm trung chuyển còn hạn chế về hạ tầng, nhân lực kỹ thuật và năng lực kiểm soát chất lượng.
Việc lựa chọn giống của người nuôi ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cảm quan, giá bán hoặc quan hệ thương mại, chưa dựa đầy đủ vào hồ sơ kỹ thuật, kết quả kiểm dịch, xét nghiệm, thông tin đàn bố mẹ và lịch sử chất lượng của cơ sở cung ứng. Điều này làm tăng nguy cơ sử dụng giống không bảo đảm chất lượng, giống không rõ nguồn gốc hoặc giống không phù hợp với điều kiện nuôi cụ thể.
Một trong những điểm nghẽn lớn của ngành giống tôm nước lợ hiện nay là dữ liệu quản lý và truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ. Dữ liệu về cơ sở giống, đàn tôm bố mẹ, lô giống, kiểm dịch, xét nghiệm, vận chuyển, tiêu thụ và dịch bệnh còn phân tán; mã số cơ sở, mã đàn bố mẹ, mã lô giống và hồ sơ điện tử chưa được áp dụng đồng bộ.
Khi phát sinh dịch bệnh hoặc thiệt hại sau thả, việc truy xuất ngược từ ao nuôi về lô giống, cơ sở ương dưỡng, cơ sở sản xuất và đàn bố mẹ còn khó khăn. Đây là hạn chế lớn trong quản lý rủi ro, nhất là khi giống tôm thường được vận chuyển liên tỉnh từ các vùng sản xuất trọng điểm như Khánh Hòa, Lâm Đồng, Cà Mau đến nhiều vùng nuôi thương phẩm trên cả nước.
Cùng với truy xuất, an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh cũng cần được coi là trụ cột. Đến năm 2025, cả nước mới có 83 cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh đối với tôm nước lợ, trong khi tổng số cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống khoảng 1.910 cơ sở. Tỷ lệ này cho thấy chứng nhận an toàn dịch bệnh mới tập trung ở một số cơ sở có điều kiện tốt, chưa trở thành mặt bằng chung của toàn hệ thống.
Giai đoạn 2026–2030, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đặt mục tiêu phát triển hệ thống sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ theo hướng hiện đại, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh; từng bước chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao; bảo đảm cung ứng đủ giống có chất lượng, sạch bệnh, rõ nguồn gốc, phù hợp với các mô hình nuôi. Trọng tâm là xây dựng, vận hành hệ thống dữ liệu quản lý giống tôm nước lợ; áp dụng mã số cơ sở, mã đàn bố mẹ, mã lô giống, hồ sơ điện tử và truy xuất nguồn gốc từ tôm bố mẹ đến vùng nuôi thương phẩm.
Đây là hướng đi cần thiết để ngành tôm Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chi phí đầu vào cao, dịch bệnh phức tạp, cạnh tranh quốc tế gay gắt và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe. Khi con giống được kiểm soát từ tôm bố mẹ đến lô giống thương phẩm, từ cơ sở sản xuất đến vùng nuôi, ngành tôm mới có thể giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả nuôi và phát triển bền vững.
Về lâu dài, phát triển giống tôm nước lợ không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô sản xuất. Điều cần hơn là một hệ thống giống minh bạch, có dữ liệu, có kiểm soát dịch bệnh và có liên kết chặt chẽ giữa cơ sở sản xuất giống, cơ sở ương dưỡng, vùng nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và cơ quan quản lý. Khi đó, thị trường giống mới có thể từng bước chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, uy tín, hiệu quả sau thả và trách nhiệm trong toàn chuỗi giá trị.
Cần thay đổi tư duy quản lý giống tôm nước lợTại Hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam” vừa được tổ chức tại Khánh Hòa ngày 5/6, TS. Trần Đình Luân – Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, nếu không thay đổi mạnh mẽ tư duy quản lý và tổ chức sản xuất, những mục tiêu lớn của ngành tôm sẽ khó đạt được, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các cơ sở sản xuất giống tăng cường minh bạch về nguồn gốc, công suất sản xuất, hồ sơ tôm bố mẹ và quy trình vận hành; thực hiện nghiêm an toàn sinh học, kiểm soát chất lượng giống và chia sẻ thông tin với cơ quan quản lý. Đây là cơ sở để kịp thời phát hiện, xử lý các cơ sở làm chưa đúng, bảo vệ những đơn vị sản xuất nghiêm túc, nâng cao chất lượng con giống và uy tín của ngành tôm Việt Nam. Theo TS. Trần Đình Luân, Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp cần cùng tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển ngành tôm, nhất là trong nghiên cứu, chọn tạo và chủ động nguồn tôm bố mẹ trong nước. Cơ quan quản lý sẽ đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào khoa học công nghệ, qua đó hình thành những doanh nghiệp lớn mạnh, đủ sức chủ động nguồn giống chất lượng cao, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. |